Showing posts with label VND. Show all posts
Showing posts with label VND. Show all posts

Friday, September 27, 2013

Căng thẳng tỷ giá USD/VND ở… hậu trường

Đầu tuần này, ngân hàng HSBC tổ chức một buổi trao đổi chuyên môn về ngoại hối giữa cán bộ chuyên trách với một số phóng viên. Có những câu hỏi đưa ra tưởng như đơn giản nhưng lại phức tạp, phản ánh một phần thực tế hậu trường căng thẳng vừa qua…

Ông Phạm Hồng Hải, Phó tổng giám đốc nghiệp vụ ngân hàng toàn cầu, kinh doanh vốn và ngoại hối của HSBC Việt Nam, chia sẻ đại ý: với các ngân hàng nói chung, thị trường ngoại hối hay tỷ giá càng có nhiều biến động thì càng có nhiều cơ hội kinh doanh; nhưng nhìn lại, tỷ giá quá nhiều biến động sẽ khiến doanh nghiệp khó khăn và khi đó ngân hàng cũng bị ảnh hưởng.

Dư ngoại tệ, vẫn căng…

Nhìn lại, ông Hải, “người buôn tiền” có tiếng của HSBC Việt Nam nói: “Sau giai đoạn có nhiều biến động lớn, hai năm qua tỷ giá USD/VND được giữ khá ổn định. Ngân hàng Nhà nước đã phản ứng nhanh và linh hoạt hơn trước nhiều. Có những biến động được can thiệp và xử lý ngay trong ngày. Trước đây có nhiều thời điểm ở giá trần mà khó giao dịch, nay thì thuận lợi trong biên độ”.

Không quên điểm lại hai đợt sóng cuối tháng 6 và trong tháng 7 vừa qua, ông Hải nêu một yếu tố quan trọng, VND trong hệ thống dư nhiều. Ngược lại, câu hỏi chuyên gia này đặt ra lại tưởng như mâu thuẫn: vì sao tiền gửi USD cũng dư ở mức cao nhưng sao ngân hàng không bán ra khiến tỷ giá những lúc đó căng thẳng?

Dĩ nhiên, nguồn ngoại tệ tiền gửi khác bản chất với ngoại tệ thương mại. Quan trọng hơn, các ngân hàng bị giới hạn trạng thái ngoại tệ +/-20% vốn tự có. Họ ngồi nhìn lượng USD gửi vào dày lên mà không thể bán mạnh ra, một phần vì giới hạn đó, một phần cũng tiềm ẩn rủi ro giá lên…

Đó là một thực tế có trong tháng 6 và 7 vừa qua, gắn với hai đợt biến động khá mạnh của tỷ giá USD/VND và có hiện tượng giao dịch vượt trần.

Nhớ lại ở thời điểm đó, khi trao đổi với VnEconomy, lãnh đạo một ngân hàng lớn nói rằng, cứ xem một số ngân hàng dồn vốn đẩy giá USD lên để rồi sẽ phải trả giá thôi, bởi chính chính họ phát đi tín hiệu găm giữ ngoại tệ, mà khi doanh nghiệp kìm lại không bán ra thì sẽ gây bất lợi cho các cân đối và chi phí của ngân hàng.

Thực tế, dữ liệu VnEconomy tập hợp cho thấy, nếu như trong tháng 5/2013, huy động ngoại tệ của hệ thống chỉ chớm tăng 0,89% so với cuối năm 2012, thì trong tháng 6 đã vọt lên 4,71%, tháng 7 lên tới 7,15%.

Đáng chú ý là hiện tượng găm giữ ngoại tệ thể hiện rõ ở khối khách hàng doanh nghiệp, khi tăng đột biến từ 7,76% trong tháng 5 lên 13,34% trong tháng 6 và tiếp tục lên 16,96% trong tháng 7 so với cuối năm 2012. Riêng tiền gửi ngoại tệ của dân cư vẫn duy trì trạng thái giảm khá mạnh (tương ứng -8,27% trong tháng 5, -6,8% tháng 6 và -5,93% trong tháng 7), phản ánh hướng dịch chuyển và sự hấp dẫn hơn khi nắm giữ VND có từ trong năm 2012.

Trước diễn biến trên, Ngân hàng Nhà nước vào cuộc. Tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng thêm 1% vào ngày 28/6. Đồng thời, trần lãi suất huy động USD giảm xuống, đối với tiền gửi của doanh nghiệp giảm từ 0,5%/năm xuống chỉ còn 0,25%/năm.

Ngay sau những điều chỉnh trên, dòng tiền gửi ngoại tệ cho phản ứng đồng thuận. Tốc độ tăng tiền gửi ngoại tệ của khối doanh nghiệp đã giảm đáng kể, từ 16,96% trong tháng 7 lùi về 15,51% trong tháng 8. Bớt kỳ vọng tỷ giá sẽ tiếp tục tăng, Ngân hàng Nhà nước tái khẳng định cam kết giữ ổn định, họ đã bán ra, tạo cung thương mại và tỷ giá USD/VND sau đó ổn định cho đến nay.

Ngân hàng Nhà nước cũng đau đầu

Nhưng sự êm đềm của tỷ giá USD/VND trong hai năm qua, xen lẫn một vài con sóng ngắn, không đơn giản ở những can thiệp đó.

Vốn VND trong hệ thống dư nhiều, nhiều người trong cuộc thừa nhận vậy. Thêm nữa, tháng 6 và 7 vừa qua, một số lãnh đạo quản lý nguồn vốn ngân hàng cho hay, những sản phẩm cấu trúc cho vay VND theo lãi suất USD mà một số nhà băng triển khai thời lãi suất còn cao cuối 2012 lần lượt đáo hạn. Họ thu quân, đóng và nâng trạng thái ngoại tệ, bởi vốn VND dư thừa và lãi suất đã xuống thấp, việc chuyển đổi USD để lấy vốn VND cho vay không còn hấp dẫn nữa.

Ở tình hình chung, khi tiền đồng dư nhiều và lãi suất quá thấp, ngân hàng có nhu cầu ngắm đến USD như một hướng đầu tư, hay một số thông tin lúc đó xem là đầu cơ. Đầu cơ không hẳn luôn xấu, bởi họ làm trong khuôn khổ cho phép, gắn với “bản năng” của nhà buôn vốn. Song lực cầu ngoại tệ mạnh thêm và phản ánh ở tỷ giá.

Dữ liệu cho thấy, trong tháng 6 và đầu tháng 7, lãi suất VND trên liên ngân hàng rơi xuống cực thấp, chỉ từ 0,5% - 0,8%/năm, tức không còn nhiều phân biệt so với lãi suất USD.

Thêm một lần nữa, Ngân hàng Nhà nước vào cuộc can thiệp, khá kịp thời. Cùng với việc tái khẳng định cam kết ổn định tỷ giá, đáng chú ý là có thông tin sẽ không tăng cho đến hết năm 2013, nhà điều hành xắn tay xử lý chuyện dư tiền đồng trong hệ thống.

Ngay lập tức hoạt động phát hành tín phiếu được mở lại, liên tiếp nhiều phiên sau đó để hút tiền đồng trong lưu thông về, giảm bớt áp lực đối với tỷ giá. Dữ liệu thống kê cũng cho thấy đây là một trong những thời điểm lượng tiền hút về mạnh nhất kể từ đầu năm. Lãi suất tín phiếu lập tức là một yếu tố chính “kéo” lãi suất VND trên liên ngân hàng doãng ra so với lãi suất USD.

Nhưng, có nhiều lý do để Ngân hàng Nhà nước có thể căng thẳng và đau đầu trong tính toán ở hướng can thiệp trên.

Trước hết là áp lực chi phí ngân sách. Từ cuối năm 2011 cho đến đầu 2013, Ngân hàng Nhà nước đã mua vào khoảng 15 tỷ USD, đồng nghĩa có khoảng 300 nghìn tỷ đồng cung ứng. Có nhiều kênh để trung hòa, trong đó tín phiếu là chủ lực. Đợt tăng cường hút bằng tín phiếu xử lý đợt biến động trên hẳn gây thêm sức ép về chi phí.

Một tính toán tương đối cho thấy, từ đầu năm đến nay quy mô lượng tín phiếu thường xuyên lưu hành có từ 50 - 60 nghìn tỷ đồng. Lãi suất tín phiếu đầu năm đến nay cao thì khoảng 7,5% - 8,3%/năm, thấp khoảng 2,8 - 3%/năm, những tháng gần đây từ 4,5% - 5%/năm (tùy các kỳ hạn). Chi phí cho việc dùng tín phiếu để hút tiền về năm nay ước lượng cũng đến vài ngàn tỷ đồng - điều mà Ngân hàng Nhà nước hẳn phải căn ke kỹ.

Ở một kênh khác, với gần 60 tấn vàng đã bán qua đấu thầu, nhà điều hành cũng đã hút về trên dưới 60 nghìn tỷ đồng. Có vẻ như kênh này không mất phí mà còn lãi lớn, nhưng việc sử dụng ngoại tệ để nhập vàng cho đấu thầu rõ ràng cũng phải cân nhắc, bởi dự trữ ngoại tệ còn nhiều việc phải lo toan...

Vậy nên, hút tiền về có vẻ dễ, nhưng hút như thế nào, mức độ bao nhiêu cũng dễ đau đầu, bởi gắn với áp lực chi phí, các cân đối. Tình thế trở nên căng thẳng hơn khi khả năng lãi suất VND giảm tiếp đã cạn kiệt, hút vốn về để bớt áp lực cho tỷ giá nhưng lại dễ cản trở chủ trương - yêu cầu giảm lãi suất cho vay.

Thế nên, hậu trường của điều hành hay trong yêu cầu ứng xử với các cân đối không hẳn khá dễ chịu như tỷ giá USD/VND trên biểu niêm yết của các ngân hàng thời gian qua, hay được đơn giản hóa như một số quan điểm xuất hiện những ngày gần đây khi cho rằng tỷ giá yên ắng là nhờ “ăn may” do vĩ mô ổn định và lạm phát được kiềm chế.

Source: http://vneconomy.vn/2013092704407259P0C6/cang-thang-ty-gia-usdvnd-o-hau-truong.htm

Saturday, February 25, 2012

Vì sao tiền đồng có dấu hiệu lên giá?

Dấu hiệu tiền đồng lên giá trong thời gian gần đây được cho là nhờ giảm nhập siêu, kiều hối về nhiều. Tuy nhiên nguyên nhân sâu xa, căn bản của việc tiền đồng lên giá chưa được đánh giá đầy đủ.
Nguyên nhân mất giá của đồng Việt Nam kể từ năm 2008 đến quí 4-2011 được giải thích bởi thâm hụt cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối thấp; lạm phát cao, sự lỏng lẻo của chính sách tài chính; thiếu niềm tin vào chính sách.

Nguyên nhân của dấu hiệu tiền đồng lên giá trong thời gian gần đây (giá mua đô la Mỹ và giá bán phổ biến của các ngân hàng thương mại thời điểm này chỉ ở mức 20.750 đồng và 20.850 đồng) được cho là nhờ giảm nhập siêu, kiều hồi về nhiều, tuyên bố của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN)... Nhưng nguyên nhân sâu xa, căn bản của việc tiền đồng lên giá chưa được đánh giá đầy đủ.

Giảm nhu cầu đô la Mỹ để nhập khẩu tư liệu sản xuất

Nhập siêu giảm là yếu tố căn bản để giảm nhu cầu đô la Mỹ. Theo dõi kết quả nhập siêu qua các năm, đặc biệt là từ năm 2010 đến nay, cho thấy khoảng cách giữa xuất khẩu và nhập khẩu đang thu hẹp lại. Nhập siêu hàng hóa năm 2011 ước tính 9,5 tỉ đô la Mỹ, là mức thấp nhất trong vòng năm năm qua và là năm có tỷ lệ nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu thấp nhất kể từ năm 2002.

Giảm nhập siêu là một tín hiệu đáng mừng của nền kinh tế, nhưng sự sụt giảm liên tục trong bối cảnh nhiều năm qua nhóm tư liệu sản xuất luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu nhập khẩu (năm 2011 chiếm 90,6%) là một điều cần phải lưu tâm.

Theo Tổng cục Thống kê, tháng đầu tiên của năm nay giảm nhập khẩu mạnh nhất là nhóm hàng nguyên liệu phục vụ sản xuất. Trong đó, phương tiện vận tải và phụ tùng giảm 86,2%; bông giảm 56%; dầu mỡ động thực vật giảm 51,8%; kim loại thường khác giảm 53,5%; vải giảm 30,9%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép giảm 20,6%. Như vậy có thể thấy nhu cầu đô la Mỹ cho nhập khẩu từ nửa cuối năm 2011 đến nay đã giảm mạnh.

Không còn tình trạng các doanh nghiệp nhập khẩu chầu chực, đôn đáo chạy đi mua đô la như những năm trước. Có thể nói sản xuất đình đốn, co cụm của các doanh nghiệp trong nước là nguyên nhân sâu xa của cầu đô la giảm, do đó tỷ giá tiền đồng/đô la Mỹ cũng dần sụt giảm.



Không còn kỳ vọng tỷ giá đột biến

Có lẽ điều thành công nhất trong thời gian gần đây của Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình là giữ được tỷ giá theo tuyên bố. Ngày 7-9-2011, ông Bình tuyên bố điều chỉnh tỷ giá đô la Mỹ/tiền đồng đến cuối năm (2011) không quá 1%. Thực tế, cho đến những ngày cuối năm 2011, NHNN đã giữ được cam kết. Điều này bước đầu đã tạo niềm tin cho thị trường. Tiếp đó đầu năm 2012, ông Bình nói nếu không có những tác động bất thường (cả trong và ngoài nước) ảnh hưởng đến kinh tế thì tỷ giá tiền đồng/đô la Mỹ năm 2012 biến động không quá 3%.

Lời tuyên bố của ông Bình được những yếu tố khách quan hỗ trợ (kiều hối về nhiều, giảm nhập siêu, lãi suất tiền gửi bằng tiền đồng vẫn ở mức cao... Những yếu tố này chắc người đứng đầu NHNN với các số liệu thống kê đã nắm chắc), cộng với những động thái điều hành ngoại hối (chủ quan của NHNN mà bên ngoài khó có thể biết) khiến cho kỳ vọng tăng tỷ giá của doanh nghiệp, dân cư và các nhà đầu tư giảm mạnh. Trong hai tuần vừa qua, rất nhiều doanh nghiệp và người dân đi bán đô la Mỹ cho các ngân hàng thương mại. Giá mua ngoại tệ của ngân hàng giảm dần từ 20.930 đồng xuống 20.750 đồng/đô la vào cuối tuần trước. Dù giảm mạnh nhưng vẫn có nhiều người dân bán ngoại tệ lấy tiền đồng gửi các ngân hàng có mức lãi suất cao hơn 14%/năm. Dập kỳ vọng tăng tỷ giá là nguyên nhân thứ hai khiến tỷ giá tiền đồng/đô la Mỹ trên thị trường tiền tệ chính thức và tự do giảm khá mạnh trong mấy tuần gần đây.

Kiều hối về chuyển sang tiền đồng

Kiều hối về Việt Nam tiếp tục tăng mạnh trong năm 2011 và dịp Tết Nhâm Thìn 2012 (riêng năm 2011 ước đạt 9 tỉ đô la) là một nguồn cung ngoại tệ để ổn định tỷ giá. Những năm trước đây khi tỷ giá thị trường tự do cao hơn tỷ giá ngân hàng, việc quản lý thị trường còn chưa nghiêm, kiều hối bán cho ngân hàng rất ít. Nay tỷ giá thị trường tự do chỉ bằng, thậm chí có thời điểm thấp hơn, cộng với mức phạt rất cao 300-500 triệu đồng khiến người nhận kiều hối chủ yếu bán cho ngân hàng rồi gửi tiết kiệm bằng tiền đồng (ít đầu tư vào bất động sản như những năm 2009, 2010). Lãi suất gửi tiền đồng vẫn ở mức cao là một trong những nguyên nhân thu hút nguồn kiều hối.

Tỷ giá bao giờ điều chỉnh?

Một điều chắc chắn là tỷ giá tiền đồng/đô la Mỹ không thể ở mức như hiện nay. Mức tỷ giá này sẽ làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, về lâu dài không tốt cho hoạt động xuất khẩu. Đã có ý kiến bình luận để mức tỷ giá như hiện nay là “con dao hai lưỡi”. Tuy nhiên, nếu có điều chỉnh thì mức tăng tỷ giá của năm nay cơ bản sẽ ở mức biến động 3% mà ông Nguyễn Văn Bình tuyên bố. Với những yếu tố như đã đề cập ở trên, dư địa để NHNN chủ động điều hành tỷ giá rộng hơn các năm trước. Sự điều hành tỷ giá trong thời gian tới sẽ đồng bộ với việc kiềm chế lạm phát và giảm lãi suất tiền đồng.

Cuối năm 2011. Ông Tai Hui, Trưởng bộ phận Nghiên cứu Đông Nam Á của Ngân hàng Standard Chartered, dự báo tỷ giá tiền đồng/đô la Mỹ của Việt Nam sẽ đạt mức 21.400 đồng/đô la Mỹ trong quí 1-2013 và vào quí 3 cùng năm sẽ đạt mức 22.000 đồng. Nếu dự đoán này là đúng thì có thể cuối quí 1-2012, NHNN sẽ đi bước đầu tiên trong lộ trình điều chỉnh tỷ giá của năm. Tuy nhiên, sự điều chỉnh này cũng không gây sốc cho thị trường vì bước điều chỉnh ngắn. Ngay tại thời điểm này, dù dự đoán có sự điều chỉnh tỷ giá thì khi đặt tương quan so sánh với lợi nhuận thu được từ việc gửi tiền đồng trong ngân hàng, nhiều người vẫn quyết định bán đô la Mỹ để chuyển sang tiền đồng.

Source: http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/tiente/71810/Vi-sao-tien-dong-co-dau-hieu-len-gia?.htmlc

Tuesday, December 27, 2011

Cần thận trọng khi phát hành chứng chỉ vàng

(TBKTSG) - Một nguồn lực rất lớn đang bị lãng phí, trong khi đó dự trữ ngoại hối của quốc gia lại hết sức mỏng manh là đánh giá chung của nhiều người khi nói về một lượng vàng lớn đang do người dân nắm giữ (ước tính khoảng 500 tấn). Vì vậy, phát hành chứng chỉ vàng là một giải pháp đã sớm được đề cập. Tuy nhiên, cần phải hết sức thận trọng nếu như sắp tới Ngân hàng Nhà nước (NHNN) muốn triển khai biện pháp này trong thực tế.

Chứng chỉ vàng là gì?

Chứng chỉ vàng là một loại giấy tờ có giá, được NHNN phát hành, để chứng nhận cho việc khách hàng gửi vàng tại NHNN. Chứng chỉ vàng có thể có hai loại: chứng chỉ ghi danh và chứng chỉ không ghi danh, được NHNN phát hành thông qua hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD).

Chứng chỉ không ghi danh không thể hiện tên người quản lý, sử dụng chứng chỉ và có thể mua bán, chuyển nhượng theo hình thức trao tay (như một phương tiện thanh toán). Còn chứng chỉ ghi danh có thể hiện tên của người quản lý, sử dụng chứng chỉ đó, trong trường hợp cần chuyển quyền quản lý, sở hữu chứng chỉ thì phải tiến hành đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật và của NHNN.

Nếu người đang quản lý, sở hữu chứng chỉ vàng muốn chuyển đổi thành vàng vật chất thì có thể thông qua hệ thống các TCTD để tiến hành thủ tục chuyển đổi.

Thực tế, hiện nay một số ngân hàng thương mại (NHTM) vẫn đang phát hành chứng chỉ vàng ghi danh, có trả lãi cho các khách hàng có nhu cầu gửi vàng tại ngân hàng. Tuy nhiên, chứng chỉ này không có vai trò như một phương tiện thanh toán. Khách hàng gửi vàng hiện nay tại các NHTM chủ yếu để hưởng lãi và để bảo đảm an toàn cho một tài sản có giá trị.

Cần thận trọng khi phát hành

Tháng 5-2012, các NHTM sẽ phải chấm dứt toàn bộ hoạt động huy động vàng. Việc NHNN ban hành quy định cấm các NHTM huy động vàng xuất phát từ hai nguyên nhân cơ bản. Thứ nhất, vì đây là hoạt động mang tính rủi ro cao do sự biến động giá vàng quá lớn; thứ hai, đây còn là một phần nguyên nhân của tình trạng bất ổn của thị trường vàng trong thời gian qua, trong đó có việc ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá đô la Mỹ. Thế nhưng, việc NHNN phát hành chứng chỉ vàng có làm những bất ổn của thị trường vàng bớt đi hay chỉ là việc NHNN thay thế vai trò của các NHTM hiện nay mà thôi, khi nhu cầu mua và tích trữ vàng vẫn rất cao nhưng có thể chỉ một phần được chuyển thành chứng chỉ?

Việc cho phép chứng chỉ vàng không ghi danh được mua bán trao đổi theo hình thức trao tay đặt ra câu hỏi về vai trò của những chứng chỉ này trong hoạt động thanh toán. Có phải đây là một hình thức của tiền, thậm chí còn bảo đảm hơn so với tiền giấy hiện nay vì được bảo đảm bằng vàng. Chúng ta sẽ đối xử với những chứng chỉ vàng này ra sao và vai trò của tiền đồng sẽ bị ảnh hưởng như thế nào?

Phương tiện thanh toán có bảo đảm bằng vàng gợi nhớ lại chế độ bản vị vàng trước đây. Tuy nhiên, điểm khác là các chứng chỉ này được bảo đảm bằng số vàng đã có nên về lý thuyết khả năng chuyển đổi ra vàng vật chất là bảo đảm. Tuy nhiên, thực tế thời gian qua, yếu tố đầu cơ ở thị trường Việt Nam là khá lớn mà sự thất bại của chiến dịch bình ổn vàng của nhóm G1+7 (nhóm SJC và 7 ngân hàng bán vàng bình ổn) là một minh chứng rõ ràng. Do đó, không thể không tính đến yếu tố đầu cơ, thậm chí là tấn công thị trường vàng mà trong thời gian ngắn có thể NHNN sẽ không kịp phản ứng, hoặc phản ứng với một giá phải trả quá đắt!

Nhưng có lẽ trên hết, quyết định thành công của việc phát hành chứng chỉ vàng là việc người dân có đồng ý trao cho NHNN lượng vàng vật chất của mình để đổi lại việc nắm giữ các chứng chỉ. Điều này đòi hỏi một sự thay đổi rất lớn trong tư duy và truyền thống nắm giữ vàng của đại bộ phận người dân Việt Nam. Sự thay đổi có lẽ phần nhiều phụ thuộc vào niềm tin của người dân với Chính phủ, mà trước hết là từ việc giải quyết các bất ổn vĩ mô, sự thành công của quá trình tái cấu trúc nền kinh tế sắp tới, của việc chống tham nhũng, lãng phí và nhiều những vấn đề bức xúc khác.

Việc huy động lượng vàng trong dân cho mục tiêu phát triển kinh tế, tạo nguồn lực cho NHNN điều tiết thị trường và cân đối những mục tiêu vĩ mô là cần thiết. Thậm chí cần phải tiến hành trước khi chuyển vàng SJC thành vàng SBV (vàng của NHNN) để NHNN có đủ tiềm lực can thiệp trong và sau khi chuyển đổi. Tuy nhiên, những vấn đề liên quan đến tài sản cá nhân của người dân luôn là vấn đề nhạy cảm, cần phải cân nhắc hết mọi khả năng để chính sách đạt được hiệu quả mong muốn.

Có phải là cách tốt nhất?

Trong bài trả lời phỏng vấn báo Đầu tư mới đây ông Cao Sĩ Kiêm, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, cho rằng cách huy động vàng trong dân tốt nhất là phát hành các chứng chỉ huy động vàng. Người dân có quyền sử dụng chứng chỉ vàng để cầm cố, mua bán, trao đổi trên thị trường và khi cần có thể rút vàng bất cứ lúc nào.

Nhà nước sử dụng vốn vàng này để phục vụ cho doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh. Khi cần thiết, Nhà nước sẽ dùng số vàng này để can thiệp thị trường.

Tuy nhiên, để làm được điều này, trước hết cần thực hiện được ba vấn đề. Thứ nhất, chính sách phải rõ ràng, minh bạch. Thứ hai, dịch vụ, hệ thống huy động vàng phải tốt. Thứ ba, phải có mạng lưới thông tin, kiểm tra, giám sát thường xuyên.

Chứng chỉ này nên do NHNN phát hành, thực hiện song song với việc ban hành các quy chế sử dụng chứng chỉ huy động vàng. Nên phân chứng chỉ vàng ra thành hai loại: loại phải trả lãi và loại không phải trả lãi, loại ghi danh và loại không ghi danh.

Với loại chứng chỉ ghi danh, người dân dùng để gửi vào ngân hàng thì được hưởng lãi ở một mức nhất định. Còn loại chứng chỉ không ghi danh, người dân có thể mang ra trao đổi, mua bán trên thị trường... thì không được hưởng lãi.

Source: http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/nganhang/67952/Can-than-trong-khi-phat-hanh-chung-chi-vang.html

Wednesday, December 7, 2011

Rầm rĩ về dòng tiền lớn vào chứng khoán

Chưa thực sự rõ nét nhưng đã có những dấu hiệu cho thấy có một dòng tiền đang chảy vào TTCK. Nếu có, đây sẽ lực chốt đáy lớn, đỡ chứng khoán đi lên.

Đại gia ngàn tỷ

Trong tuần qua, một thông tin thu hút sự quan tâm khá lớn trên TTCK là việc CTCK Phương Đông (ORS) bất ngờ tuyên bố rút niêm yết khỏi sàn chứng khoán Hà Nội. Sự kiện này đã ngay lập tức khiến cổ phiếu ORS lao dốc với dư bán sàn tới hàng triệu cổ phiếu liên tục trong vài phiên vừa qua. Tuy nhiên, thông tin này chủ yếu chỉ ảnh hưởng tới cổ đông và giá cổ phiếu của công ty này.

Điều mà các nhà đầu tư quan tâm hơn là giải trình về "cục tiền" bí mật hơn 1.000 tỷ đồng bất ngờ xuất hiện trong báo cáo tài chính quý III/2011 của ORS.

Cụ thể, trong báo cáo quý III và 9 tháng đầu năm 2011 của ORS, số dư tiền và các khoản tương đương tiền cuối quý III của ORS đạt 1.092 tỷ đồng, tăng đột biến so với mức 33,37 tỷ đồng số dư đầu năm. Số dư tiền này chủ yếu có được trong quý III vì dư tiền cuối quý 2 chỉ đạt gần 120 tỷ đồng.

Trên bút toán phải trả giao dịch chứng khoán cũng thể hiện khoản ''Phải trả giao dịch chứng khoán'' đột biến 1.060 tỷ đồng.

Về điều này, lãnh đạo ORS cho biết, thực chất đây là tiền đặt cọc mua trái phiếu của một khách hàng ORS. Và khách hàng đó không phải là cổ đông lớn là Ngân hàng Phương Đông.

Mặc dù đã có giải thích nhưng trong giới đầu tư vẫn bàn tán xôn xao về vấn đề này, về khả năng các đại gia đang âm thầm đổ tiền vào TTCK.

Bên cạnh đó, có thể thấy, các ngân hàng thương mại cũng đã bắt đầu mở lại van tín dụng cho chứng khoán, trong đó BIDV hạ lãi suất cho vay kinh doanh chứng khoán ngắn hạn còn 19%/năm và trung hạn là 19,5%.

Trong khi đó, các quỹ đầu tư cũng bắt đầu tiến hành mua vào cổ phiếu thông qua cả hai phương thức thỏa thuận và trên sàn.

Nổi bật nhất trong tuần vừa qua, có thể kể đến là thương vụ đổi ngôi cổ đông lớn nhất tại FPT. Theo đó, Công ty Orchid Fund Private Limited vừa thực hiện mua thêm trên 2,5 triệu cổ phiếu FPT, nâng số lượng cổ phiếu sở hữu lên 17.564.000, tương đương 8,13% số cổ phiếu đang lưu hành của FPT.

Và trước đó là một loạt vụ như công ty dược phẩm lớn nhất Chile là Corporacion Farmaceutica Recalcine (CFR) đã trở thành cổ đông lớn nhất (41,88%) của công ty CP xuất nhập khẩu y tế Domesco, Quỹ Haverstock Master Fund đồng ý mua lại cổ phần không phát hành hết của THV...

Nhà đầu tư nhỏ chờ lãi suất

Trong khi các nhà đầu tư tổ chức tranh thủ lúc TTCK lao dốc để rót vốn vào một số công ty mạnh có khả năng cạnh tranh cao và tiềm năng kinh doanh tốt, thì các nhà đầu tư cá nhân trong nước cũng tranh thủ lao vào một đợt sóng mới - sóng lãi suất theo gót chân các nhà tạo lập thị trường.

Đóng cửa phiên giao dịch 5/12, cả hai sàn chứng khoán TP.HCM và Hà Nội đã có một phiên tăng điểm ấn tượng nhờ một dòng tiền lớn bất ngờ đổ vào thị trường. Cuối phiên, sàn chứng khoán TP.HCM (HOSE) có tới 220 mã tăng giá (131 mã tăng trần) trong khi chỉ có 42 mã giảm giá. Trên sàn Hà Nội, lực mua mạnh và quyết liệt kéo gần như toàn bộ nhóm cổ phiếu chứng khoán tăng trần và không còn dư bán cuối phiên. Sàn Hà Nội đóng cửa có 243 mã tăng giá (110 mã tăng trần).

Đánh giá về phiên giao dịch sáng 5/12, trên các diễn đàn đa số các nhà đầu tư đều cho rằng đây là một phiên giao dịch rất tích cực và nó sẽ giúp mở ra một trang mới cho một chu kỳ hồi phục thực sự của thị trường.

Theo các nhà đầu tư này, có khá nhiều yếu tố để thị trường đi lên. Đó là kỳ vọng lãi suất sẽ sớm giảm sau chỉ đạo của Thủ tướng, kỳ vọng có gói kích thích kinh tế nói chung và giải pháp cho chứng khoán nói riêng, kỳ vọng sóng NAV cuối năm và sức cung thấp khi giá cổ phiếu ở mức quá "bèo" ...

Trên thực tế, giá của hầu hết các cổ phiếu trong tháng 11 đã rớt về mức thấp kỷ lục. Đại đa số các cổ phiếu trên 2 sàn chứng khoán đã xuống dưới mệnh giá (10.000 đồng/cp), trong đó có khoảng 50% có giá dưới 5.000 đồng/cp.

Chỉ số P/E của nhiều cổ phiếu đã xuống mức hấp dẫn, trong khi kinh tế vĩ mô đang có những dầu hiệu phục hồi và chuyển biến tích cực hơn trong những tháng cuối năm 2011, như USD tự do hạ nhiệt, thị trường vàng đang dần ổn định, xuất khẩu tăng, nhập siêu giảm, kiều hối tăng, dự trữ ngoại hối tăng, lạm phát hạ nhiệt...

Ông Trần Hoàng Ngân - thành viên HĐ Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia cũng đã cho rằng, giảm lãi suất VND là hợp lý. Giảm lãi suất VND sẽ tạo nhiều thuận lợi cho nền kinh tế và cần thực hiện càng sớm càng tốt.

Trên thực tế, nếu giảm lãi suất các doanh nghiệp niêm yết sẽ được hưởng lợi khá nhiều. Cổ phiếu theo đó có thể tăng lên thành một đợt sóng.

Tuy nhiên, cũng có thể thấy dòng tiền vào chứng khoán thường là dòng tiền nóng. Nhiều người cho rằng đợt tăng này sẽ kéo dài và họ sẽ nắm chặt cổ phiếu. Nhưng cũng có không ít người đã tính chuyện bán ra để thu lợi nhuận 15-20% khi mà nhiều cổ phiếu tăng trần liên tiếp.

Dòng tiền vào ra chứng khoán là theo quy luật cung cầu. Nó có thể là đồng tiền đầu tư hoặc đầu cơ. Tuy nhiên, xét cho cùng thì đầu tư hay đầu cơ đều có ích giúp TTCK duy trì tính thanh khoản và phát triển để đóng vai trò là kênh dẫn vốn cho nền kinh tế.

Source: http://cafef.vn/2011120608457355CA31/ram-ri-ve-dong-tien-lon-vao-chung-khoan.chn