Showing posts with label sugarcane. Show all posts
Showing posts with label sugarcane. Show all posts

Tuesday, May 15, 2012

Mía đường, mảnh đất màu mỡ?


Mặc dù tình hình kinh tế đang khó khăn, quí 1 vừa qua các doanh nghiệp trong ngành mía đường vẫn đạt được kết quả kinh doanh khả quan, thu hút sự chú ý của nhà đầu tư lớn trong lĩnh vực này.

Giá vốn tăng, lợi nhuận vẫn tăng

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến ngày 15-4 các nhà máy đã ép được 12.615.000 tấn mía, tăng 1.280.000 tấn so với cùng kỳ; lượng đường sản xuất được là 1.118.000 tấn, tăng 78.700 tấn so với cùng kỳ. Trong thời gian từ tháng 3 đến giữa tháng 4, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 220.000 tấn đường, tăng gần 147.000 tấn so với cùng kỳ năm trước.
Xét về doanh thu tài chính, kết thúc quí 1, các doanh nghiệp mía đường niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam đều công bố kết quả kinh doanh rất khả quan. Công ty cổ phần Đường Kontum (KTS) đạt lợi nhuận sau thuế quí 1 là 16,2 tỉ đồng, đạt 47% kế hoạch cả năm 2012. Lãi cơ bản trên cổ phiếu quí 1 của KTS cũng đạt mức cao nhất trong số các doanh nghiệp mía đường niêm yết (4.154 đồng/cổ phiếu).

Đường Bourbon Tây Ninh (SBT) tuy đạt lợi nhuận sau thuế cao nhất trong số các doanh nghiệp đường niêm yết (95,2 tỉ đồng), nhưng chỉ bằng 52% so với quí trước. Nguyên nhân do giá vốn đường tăng hơn 65% so với cùng kỳ nên mặc dù tổng doanh thu cao hơn cùng kỳ năm trước nhưng lợi nhuận sau thuế của SBT chỉ đạt được mức khiêm tốn, và vẫn nằm trong chỉ tiêu 2012.

Tình trạng giá bán giảm và giá vốn tăng khiến mức lợi nhuận giảm bớt cũng xảy ra tương tự ở Công ty cổ phần Đường Biên Hòa (BHS) và Mía đường Nhiệt điện Gia Lai (SEC). Doanh thu BHS tăng 13,62%, tương ứng 83 tỉ đồng so với cùng kỳ năm ngoái, tuy vậy, lợi nhuận sau thuế của BHS chỉ đạt trên 30 tỉ đồng, tương ứng 77% cùng kỳ năm trước, và chỉ đạt 22% kế hoạch năm 2012. Lợi nhuận sau thuế của SEC cũng chỉ đạt 60% cùng kỳ năm ngoái, nhưng công ty cũng đã hoàn thành 32% chỉ tiêu năm 2012 chỉ trong quí 1.

Ngoài việc phải giảm giá bán và chịu sự gia tăng của giá vốn hàng bán trong quí 1, Công ty cổ phần Mía đường Lam Sơn (LSS) còn phải gánh cả chi phí lãi vay 12,5 tỉ đồng, cao gấp hơn chục lần so với cùng kỳ năm ngoái là 937 triệu đồng. Điều này khiến lợi nhuận sau thuế của LSS chỉ ở mức khiêm tốn là 24,3 tỉ đồng, bằng một phần tư so với cùng kỳ năm trước và chỉ đạt khoảng 10% so với kế hoạch năm 2012.

Cùng lúc đó, nhu cầu mua đường năm nay của Trung Quốc khá cao. Nước này đang thiếu 2 triệu tấn đường (theo Hiệp hội Mía đường Việt Nam) và có nhu cầu mua tích trữ 1 triệu tấn. Giá bán sang thị trường nước ngoài cũng cao hơn thị trường trong nước. Điều này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mía đường lên kế hoạch mở rộng quy mô trong năm nay, là cơ hội tốt để các nhà đầu tư bước chân vào mảnh đất màu mỡ này.Bên cạnh các công ty niêm yết, mặc dù tình hình kinh tế đang khó khăn, nhiều công ty đại chúng trong ngành mía đường vẫn đạt được kết quả kinh doanh khả quan. Tiêu biểu có Công ty cổ phần Mía đường 333 (S33), Công ty cổ phần Mía đường La Ngà, Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi... Nguyên nhân chính do sản lượng mía đường vụ mùa 2011-2012 lần đầu tiên vượt nhu cầu tiêu thụ trong nước, các doanh nghiệp có điều kiện xuất khẩu nhiều hơn.

Nhà đầu tư lớn trong lĩnh vực mía đường

Sự lên ngôi của các doanh nghiệp mía đường vụ mùa 2011-2012 đã thu hút sự chú ý của giới đầu tư, trong đó có gia đình ông Đặng Văn Thành, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (STB).

Trên thực tế, mía đường không phải là lĩnh vực mới mẻ với gia đình ông Thành. Các công ty của nhóm cổ đông Đặng Văn Thành đã đầu tư vào các doanh nghiệp mía đường từ cách đây nhiều năm. Đơn cử Công ty cổ phần Thành Thành Công do bà Huỳnh Bích Ngọc (vợ ông Thành) làm Chủ tịch Hội đồng quản trị cũng là một doanh nghiệp mía đường từ năm 1979. Thành Thành Công và Công ty Chứng khoán Sacombank (SBS) đều là cổ đông quan trọng của Đường Ninh Hòa (NHS) với tỷ lệ cổ phần lần lượt là 23,24% và 5,79% từ trước khi doanh nghiệp này niêm yết vào tháng 6-2010 tại HSX.

Chỉ bốn tháng sau khi Đường Ninh Hòa niêm yết thì Thành Thành Công chính thức chào mua và Đường Ninh Hòa trở thành công ty con của Thành Thành Công từ đó (tỷ lệ sở hữu 51%). Thành Thành Công cũng đồng thời là cổ đông sáng lập của Công ty cổ phần Đường Bình Định và còn có một công ty con là Công ty TNHH Thương mại Thành Thành Công chuyên kinh doanh đường.

Cũng trong năm 2010, nhóm cổ đông Đặng Văn Thành thâu tóm Công ty cổ phần Bourbon Tây Ninh (SBT) với cổ phần sở hữu lên tới 64% do ba công ty, Công ty cổ phần Thành Thành Công, Công ty TNHH Đặng Thành, và SBS đại diện tại SBT (nay còn 49,5% sau khi SBS rút khỏi SBT), cũng do bà Huỳnh Bích Ngọc giữ vị trí Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Một công ty mía đường khác đang giao dịch ở Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn là Công ty cổ phần Mía đường 333 (S33) cũng chịu ảnh hưởng của nhóm cổ đông Đặng Văn Thành bởi NHS sở hữu 41,12% vốn điều lệ của công ty. Thành Thành Công cũng sở hữu trực tiếp 2% và gián tiếp 19,85% vốn điều lệ S33 thông qua khoản đầu tư của NHS. Ngoài ra, NHS cũng sở hữu 41,9% vốn điều lệ Đường Phan Rang. Gần đây nhất bà Huỳnh Bích Ngọc được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quản trị Đường Biên Hòa tại đại hội đồng cổ đông thường niên 2012…

Như vậy là trong số 39 doanh nghiệp mía đường trong cả nước thì có đến gần chục doanh nghiệp chịu ảnh hưởng hoặc có mối quan hệ với nhóm cổ đông Đặng Văn Thành. Hơn nữa, đây là những công ty đóng vai trò quan trọng trong tổng sản lượng mía đường cả nước, theo tính toán, tương đương 32,6% tổng sản lượng đường, và 14% tổng sản lượng mía ép.

Ở một thị trường mía đường đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ như hiện nay, kiểm soát một tỷ trọng lớn của tổng sản lượng mía đường sẽ đem lại lợi thế không nhỏ cho một nhóm tổ chức trong việc kiểm soát giá cả và cung cầu trên thị trường. Trước thực tế sản lượng mía đường hiện nay chỉ đủ cho nhu cầu trong nước, đây sẽ là một thách thức. Những người đầu tư vào ngành mía đường cần có một chiến lược đầu tư đúng đắn và bền vững cho nguyên liệu, đảm bảo đáp ứng ổn định nhu cầu trong nước và tiến tới xuất khẩu ra nước ngoài. Có như vậy mới giữ được sự màu mỡ của mảnh đất mía đường.

Source: http://www.thesaigontimes.vn/Home/kinhdoanh/dautu/76254/Mia-duong-manh-dat-mau-mo?.html

Thursday, January 5, 2012

Biofuels: Brazilian brew

“WE’VE been waiting for this news for more than 30 years,” crows Marcos Jank, the president of UNICA, the Brazilian sugarcane-growers’ trade association. The cause of his excitement is the demise on December 31st of import tariffs and tax credits that have long sheltered ethanol distilled from corn in the United States from the same stuff made from sugarcane in Brazil. Now, for the first time, the two countries that produce more than 80% of the world’s ethanol can sell in each other’s backyard at market prices.

Distilling ethanol from tropical sugarcane takes less land and uses less fossil fuel than starting with corn grown in temperate climes. That makes Brazilian ethanol, unlike the pampered and grotesquely wasteful American version, competitive with hydrocarbons and genuinely good for the environment. Most of Brazil’s cars run on a mix of the two fuels. The standard blend contains 18-25% ethanol. Poor weather, and cash-strapped growers delaying their replanting after the 2008 credit crunch, have recently squeezed production—and led to Brazil importing some American ethanol. But in more normal times Brazilian distillers reckon they can supply their home market and export to America at sweet prices.

America’s subsidies and trade barriers were long defended by senators from over-represented, underpopulated rural states (and protected by the fact that corn-loving Iowa holds the first presidential caucuses). But the corn lobby’s influence is waning. Ethanol tax-credits cost $6 billion in 2011: a hard sell in hard times. Corn prices are high, making this a good moment for American corn-growers to start paying for their enormous pickups unaided.

If ethanol is ever to become a globally traded commodity—the long-term dream of boosters in both countries—the two sides need to make common cause. On other biofuels, for example in the aviation industry, they already are, with America’s Boeing partnering with Brazil’s Embraer.

At present America’s corn-ethanol producers distil 14 billion US gallons (53 billion litres) a year—enough to provide 10% of America’s motoring needs and meet federal rules for renewable-fuel use. But those rules will grow stricter over the next decade, and most of the new demand must be met from other sources. Under the 2007 Energy Independence Act biofuel use is supposed to rise to 36 billion US gallons by 2022, of which 21 billion US gallons must come from a source other than cornstarch.

A few experimental options, such as biodiesel made from algae, look close to commercial viability, says Andy Steinhubl of Bain & Company, a consultancy. But their coming has been heralded before and proved premature, he adds. So the only contender right now is sugarcane ethanol.

Before Brazil’s sugarcane growers can take advantage of this new market they need to make up lost ground. Last year the country crushed 555m tonnes of sugarcane, with 150m tonnes of mill capacity left unused. Planting is picking up again, says Mr Jank, and the spare capacity will not remain idle for long. In the longer term, new plantations, sugar-mills and distilleries will be required. The conditions are right for investment, says André Nassar of ICONE, a Brazilian research institute.

He predicts efficiency gains as well, with increasing use of smarter techniques such as crop rotation and the greater use of bagasse (the part of the cane left after the sugar is extracted) for generating electricity and feeding cattle. A long-mooted pipeline carrying ethanol from Brazil’s central and southern sugar-growing regions to Santos, its largest port, might finally get built.

In recent years Brazil’s government has made investment in the sector less attractive by fiddling with the price of fuel, Mr Nassar says. To help control inflation it pressured Petrobras, the country’s state-controlled oil giant, to keep petrol prices low, thereby capping the price of ethanol. And in 2011 it cut taxes on petrol, but not ethanol, and reduced the mandatory blend of ethanol mixed with standard motoring fuel, thereby reducing demand. Access to a big foreign market should be the pick-me-up Brazil’s ethanol producers need to start spending again.

Source: http://www.economist.com/node/21542431