Showing posts with label fiscal. Show all posts
Showing posts with label fiscal. Show all posts

Friday, July 5, 2013

Khi Nhà nước khởi động lại thị trường

(TBKTSG) - Với việc hạ trần lãi suất huy động ngắn hạn sáu tháng trở xuống về 7%/năm, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chính thức xác nhận đáy của lãi suất hiện nay. Lãi suất cũng phát đi tín hiệu các công cụ điều hành tiền tệ đã được sử dụng gần hết để phục vụ cho mục tiêu ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát. Bây giờ đến lúc chính sách tài khóa mà cụ thể là đầu tư công phải được phát huy để có thể đạt tăng trưởng 5,5% cho năm 2013.

Mắc kẹt tín dụng

Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết đến tuần thứ ba của tháng 6-2013, tín dụng mới tăng 3,31% so với cuối năm ngoái. NHNN đã đưa ra một lượng tiền, có thể nói, là nhiều hơn cần thiết nhằm vừa tạo điều kiện, vừa thúc ép các ngân hàng phát triển tín dụng. Lãi suất qua đêm liên ngân hàng xuống thấp chưa từng thấy. Các ngân hàng thừa vốn đến mức phải liên tục giảm lãi suất tiết kiệm. Nợ xấu được tái cơ cấu theo Văn bản 780 đã lên tới gần 285.000 tỉ đồng. Một cách hình ảnh, các nhánh ách tắc dẫn tới con kênh lớn tín dụng đã được khơi thông, nhưng tín dụng vẫn chỉ là dòng nước lặng lờ trôi, không sóng, không cuộn, không gấp gáp bởi doanh nghiệp không thể hấp thụ tiền vay và người đi vay không biết vay để làm gì khi hàng tồn kho còn đó.
Eximbank, ngân hàng từ trước đến nay vẫn được xem là một trong những tổ chức dẫn đầu về tăng trưởng tín dụng của khối cổ phần. Vậy mà từ đầu năm đến nay tín dụng chỉ dương ở mức 0,9%, thấp nhất kể từ năm 2000. Tổng giám đốc một ngân hàng khác có tăng trưởng tín dụng nhỉnh hơn, khẳng định: “Muốn đẩy được tín dụng chỉ còn cách hạ chuẩn cho vay. Làm thế chẳng khác nào chất cao thêm nợ xấu và vòng xoáy nợ xấu - tín dụng - nợ xấu sẽ không thể nào giãn ra được”.

Tiền đâu tăng đầu tư công?

Nút thắt tín dụng sẽ phải mở bằng cách tháo gỡ một nút cổ chai khác là kích cầu để giải phóng hàng tồn. Đầu tư công giống như miếng mồi hấp dẫn và khi cần câu thả xuống, nó có thể kích thích khối hàng tồn kho chuyển động. Tuy nhiên, với mức hụt thu ngân sách vừa được Bộ Tài chính công bố có thể lên đến 65.000 tỉ đồng, tiền đâu để kích cầu?

NHNN cho biết đã đề xuất phương án phát hành thêm 100.000 tỉ đồng trái phiếu chính phủ cho mở rộng đầu tư công. Hiện các ngân hàng đang thừa tiền. Việc phát hành thêm này sẽ giúp tiền dịch chuyển, không bị ứ trong kho ngân hàng và nhất là có lợi cho ngân sách khi lợi tức trái phiếu đang ở mức 6-6,5%/năm tùy kỳ hạn. Những dự án, công trình được tài trợ bằng nguồn trái phiếu giá thành thấp sẽ giúp hạ giá sản phẩm đầu ra, cải thiện hiệu quả đầu tư. Trước mắt trái phiếu phát hành mới giải quyết ngay được khối nợ đọng xây dựng cơ bản 95.000 tỉ đồng. Trong lĩnh vực xây dựng, không ít doanh nghiệp, nhà thầu sẽ được thanh toán nợ đọng và họ có khả năng bắt đầu một vòng quay kinh doanh mới.

Ngoài ra, nguồn hụt thu ngân sách có thể bù đắp bằng cách tiếp tục bán bớt vốn nhà nước ở các công ty Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối. Việc định giá doanh nghiệp ở những đơn vị chưa IPO sẽ mất thời gian, chưa kể xử lý công nợ trong khi cân đối ngân sách là việc không thể chậm trễ. Nhà nước đang sở hữu những doanh nghiệp niêm yết, giá trị vốn hóa được thị trường xác định hàng ngày, tại sao không đấu giá công khai, bán bớt vốn ở những công ty đó? Thậm chí Nhà nước có thể nới room (tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại một doanh nghiệp) đơn vị niêm yết từ 49% lên trên 51%, hoặc 60-65% nhằm thu hút các tổ chức chiến lược nước ngoài nếu muốn mở rộng đối tượng người mua. Thí dụ nếu bán 10% vốn nhà nước ở Vinamilk, Nhà nước có thể thu được nửa tỉ đô la Mỹ. Thậm chí Nhà nước có thể có được hơn 1 tỉ đô la Mỹ tương đương 22.000 tỉ đồng trong trường hợp thoái 20% vốn ở công ty này. Nhà nước có cần độc quyền về sữa không? Chắn chắn là không.

Với Tổng công ty Khí (GAS), nếu bán đấu giá 10% vốn nhà nước, giảm sở hữu quốc doanh từ 96,8% xuống 88,8%, ngân sách có thể có 11.000 tỉ đồng. Con số này sẽ tăng gấp đôi khi đấu giá 20%. Chỉ cần bán bớt vốn ở Vinamilk và GAS, Nhà nước đã có 44.000 tỉ đồng, tức hai phần ba mức hụt thu ngân sách.
Một số lĩnh vực như dược phẩm, hàng tiêu dùng, dịch vụ dầu khí, logistics, cảng biển, cao su thiên nhiên... Nhà nước cũng không nhất thiết phải độc quyền. Hầu hết các công ty cao su đang được Nhà nước sở hữu trên 51%. Không ít doanh nghiệp sản xuất săm lốp, đệm mút cao su hay các thiết bị hàng tiêu dùng sử dụng nguyên liệu cao su sẵn sàng tham gia đấu giá, trở thành cổ đông để có nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào ổn định. Đó không phải là một sự điều tiết cung cầu hợp lý ngay tại thị trường nội địa sao?

Điều gì đang cản trở việc cải thiện nguồn thu ngân sách từ thoái vốn nhà nước để doanh nghiệp có trình độ quản trị cao hơn? Hơn nữa bán bớt vốn nhà nước là huy động nguồn lực nội - ngoại, nguồn lực trong dân mà không cần phải in thêm tiền, bơm thêm tiền nên không cần phải lo lắng về lạm phát. Phải chăng đó là tư duy độc quyền, là lối suy nghĩ Nhà nước phải hiện diện trong mọi lĩnh vực kinh tế kể cả ngành nghề không trọng yếu, trong khi hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp quốc doanh đang dần bị lấn lướt? 

Phải công bằng thừa nhận rằng thời gian qua chính sách và điều hành tiền tệ đã đi trước chính sách tài khóa. Các chính sách miễn giảm thuế chưa mang lại hiệu quả tức thì và chưa có đủ độ nặng cần thiết để doanh nghiệp xóa đi tâm trạng chờ đợi, quan sát. Trong khi đó, lãi suất đã giảm, tỷ giá khá ổn định và lạm phát đang ở trong tầm kiểm soát.

Người dân và khối dân doanh vẫn chưa xuống tiền đầu tư làm ăn. Bất động sản đóng băng, chứng khoán phập phù, một bộ phận người dân vẫn mua vàng bất chấp giá thế giới tụt dốc vì chưa tin tưởng tiền đồng, thì Nhà nước phải đầu tư trước tiên để dẫn dắt và khởi động lại thị trường. Gia tăng đầu tư công là hành động thiết thực cho thấy tăng trưởng không phải là mục tiêu thứ yếu trong đòi hỏi bức thiết tái cơ cấu nền kinh tế.

Source: http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/sukien/98843/Khi-Nha-nuoc-khoi-dong-lai-thi-truong.html

Thursday, February 16, 2012

Watch out as sovereigns eye company cash piles

Much has been written about how the developed world must tackle its structural budget deficits. But the link that remains to be properly recognised is that the counterparts to those ‘unsustainable’ public-sector budget deficits are equally ‘unsustainable’ corporate-sector surpluses.

The conventional wisdom believes that the current sovereign debt crisis is the result of governments having been too profligate. But it is not that governments have been spending ‘too much’ that is the problem; it is that corporates have been spending ‘too little’. Moreover, because this corporate saving is the main counterpart to the government’s borrowing, until companies start to spend again, the burden of fiscal adjustment will have to fall on cutbacks in public services and higher personal taxation. It is time to shift the debate away from talking about the fiscal position, and focus instead on whether it is a shift in corporate behaviour that is responsible for the fiscal mess in the developed world.

It is very unusual for the corporate sectors to run sustained financial surpluses. Look back at the UK and the US for more than half a century and the corporate sector has tended to be a net borrower, not a net saver.

What has prompted the recent move into financial surplus has been the decision by companies to step away from investment. Investment-to-gross domestic product ratios in the developed world are now close to the lowest levels seen in 60 years. Corporates appear to have decided to run themselves for cash, and not for growth. It is this profound shift in corporate behaviour that policymakers and politicians have been slow to spot. Until this behaviour changes – or is changed – it will be very hard to improve the fiscal arithmetic.

Now this could be a simple cyclical issue. Corporates – like investors – were seduced into believing that the great moderation was the new normal… only to find themselves thrown into a world of unprecedented uncertainty by the credit crunch. Faced with such a loss of visibility and a shortage of external finance, chief executives had no option but to put fixed investment on hold, and de-lever in order to reduce their dependence on the banks. The hope is that as confidence returns, so will fixed investment and job creation, followed in turn by an improvement in public finances. Policymakers should be doing all they can to bring corporates back from a world dominated by uncertainty and into a world where investment plans can be made and risks managed.

But what if the shift in corporate behaviour is structural?

After all, it is rare to have a capital expenditure cycle without a credit cycle. And where is the next credit cycle going to come from if the banks are condemned to multi-year de-leveraging? Besides, if there is any capital expenditure to be done, it is most likely that this will take place in the emerging-market economies rather than in the developed world.

Against this backdrop, it must be tempting for company managements to run the company for cash, with an aggressive share buy-back programme that will help management’s stock options to vest, a growing dividend to keep equity-income fund managers happy, and a compensation committee that makes sure the right people are paid. The kerfuffle over executive pay and rising levels of inequality is not happening in a vacuum; it could be symptomatic of ‘rent-seeking’ behaviour by corporates.

If global business leaders feel there is a growing gulf between the business agenda and the political agenda, it is because corporates are in rude financial health while governments are under the cosh. With politicians at the limit of what they can impose on their electorate, do not be surprised if they turn to those that have the cash. Trailing earnings (in US dollars) of the global quoted corporates are now back to pre-crash levels, while capital expenditure, employment and tax receipts are not, leaving corporates on the defensive. As US presidential hopeful Mitt Romney put it: “Don’t attack the private sector. Don’t attack risk-takers. Don’t attack profit. Profit, by the way, is what allows businesses to hire people and grow.” Many are now questioning whether that is still the case.

In the Reagan-Thatcher era, politicians cut taxes so that companies would come to their country, invest, create jobs … so that those politicians could, in turn, be re-elected. It does not work like that anymore; globalisation has seen to that. The reality is that public services used by the ‘99 per cent’ are taking the strain, while attractive corporate tax regimes are protected. Just as the trade-union barons of the 70s failed to see the writing on the wall, so the global captains of industry may suffer a similar fate unless they put their cash to work in the countries in which they are domiciled.

Source: http://www.ft.com/intl/cms/s/0/bf2b5e92-50be-11e1-8cdb-00144feabdc0.html#axzz1mYi1Q0j0

Wednesday, December 7, 2011

China’s economy: Poor by definition

SINCE 1978 China has liberated more people from poverty than any other country in history, partly because China before 1978 consigned more people to poverty than anywhere else in history. But this week China added over 100m to the ranks of the poor. This was not the result of some economic calamity, but of the government’s welcome decision to relax its definition of rural poverty. About 128m Chinese countryfolk earning less than 2,300 yuan ($361) a year will now be deemed poor, compared with the 26.9m who fell beneath the previous poverty line of 1,196 yuan.

China has a tradition of defining destitution abstemiously, perhaps in an effort to keep the poverty count low and the relief bill down. But this week’s decision raises China’s poverty line close to or even above the World Bank’s global standard of $1.25 per day. That standard is widely misunderstood. It is calculated not at market exchange rates, but at purchasing-power parity rates, which take account of the lower prices prevailing in poor countries. China’s new, higher line qualifies 100m more people for a variety of benefits. That is good news for China’s poor, and also good news for China’s slowing economy. An official measure of manufacturing activity, based on surveys of purchasing managers, dropped to 49 on December 1st, its lowest reading since January 2009 (see chart). Managers feel business worsened or stagnated in November, compared with the month before.

Europe’s woes must account for much of this disappointment. The rest of the blame probably lies with the government’s efforts to fight inflation by tightening the supply of money and credit. For the past couple of months it has been “fine-tuning” this policy, easing up on some things, but not on others. On November 30th it opted for something more dramatic, cutting the amounts that banks must keep in reserve at the central bank by 0.5 percentage points.

That should ease the credit crunch that hurt many businesses over the summer. The fear, however, is that freeing the banks could lead to a lending spree like the one that rescued China from the previous crisis. That lending saddled many local governments with debts they are struggling to repay. These loans will be rolled over once, according to reports. But if local governments still need a bail-out after that, they will have to cede some of their budgetary freedoms to Beijing. That is how fiscal federalism works—as Europe is about to discover.

If China’s slowdown remains modest, the government may get away with modest monetary measures: loosening the reins on the banks, without letting go. But if the economy deteriorates sharply, the government may lean more heavily on fiscal remedies. The central government is flush with cash, taking in 28% more in revenue this year than over the same period last year. And excessive lending to the banks’ traditional borrowers (state-owned enterprises and local governments) will help the economy less than extra spending on neglected constituencies, such as the 128m rural poor. If China is worried about the economic winter ahead, it should fatten up its skeletal welfare programmes, not its bloated banking system.

Source: http://www.economist.com/node/21541080

Saturday, November 26, 2011

Một cách nhìn khác về đầu tư công

(TBKTSG) - Tiềm năng chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ để biến tiềm năng thành hiện thực là hiệu quả đầu tư công trên hai phương diện hiệu suất đầu tư cao và khả năng sử dụng đầu tư công để kích thích doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ phát triển. Những hiệu quả này của đầu tư công lại chỉ có thể đạt được dựa trên tiền đề cải cách triệt để doanh nghiệp nhà nước.

Mối quan hệ đầu tư công và công nghiệp hỗ trợ

Đối với nền kinh tế mới bước vào giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, để thực hiện tăng trưởng cần tăng đầu tư vốn toàn xã hội trong đó có đầu tư công. Đầu tư công ở đây được hiểu là phần đầu tư nhằm cung cấp những dịch vụ, hàng hóa công (đường sá giao thông công cộng, dịch vụ hành chính, giáo dục phổ thông…), mà không bao hàm vốn nhà nước trong khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Đầu tư công dù về mặt thống kê được tính vào tăng trưởng, nhưng mục tiêu số một của nó là để cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện kích thích đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài (những chủ thể mang lại tăng trưởng đích thực) phát triển.

Như đã đề cập, hiệu quả đầu tư công được xét trên hai phương diện: hiệu suất đầu tư công và hiệu quả kích thích tăng trưởng đầu tư xã hội nói chung, đặc biệt là đầu tư tư nhân nội địa. Hiệu quả kích thích phát triển đầu tư tư nhân trong đó có công nghiệp hỗ trợ nội địa lại có thể được đánh giá trên hai khía cạnh. Thứ nhất là kích thích gián tiếp thông qua việc cải thiện môi trường kinh doanh (điều kiện giao thông, đào tạo lao động…), và giảm chi phí kinh doanh. Thứ hai là kích thích trực tiếp thông qua việc cung cấp việc làm, tạo bước đệm cho doanh nghiệp nội địa đặc biệt là lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ phát triển.

Ở các quốc gia bắt đầu công nghiệp hóa, như Việt Nam hiện tại, công nghiệp hỗ trợ nội địa thường bị rơi vào một vòng luẩn quẩn giữa “năng lực cung cấp yếu” và “bế tắc thị trường đầu ra” nên không phát triển được. Thực tế đa số nhu cầu đặt hàng công nghiệp hỗ trợ là của các nhà lắp ráp (chủ yếu là đầu tư nước ngoài) thuộc các lĩnh vực đòi hỏi sản phẩm có độ tinh cao như chế tạo ô tô, máy móc cơ khí, đồ điện gia dụng, trong khi trình độ công nghệ cũng như quản lý kinh doanh của công nghiệp hỗ trợ địa phương thường không đáp ứng được.

Trong khi đó, nhìn về mặt công nghệ kỹ thuật, phần lớn lĩnh vực mà đầu tư công (đặc biệt giai đoạn đầu của công nghiệp hóa) cần tập trung phát triển, như xây dựng hạ tầng giao thông, đường sá, cầu cảng, bến bãi, cấp thoát nước…, cũng yêu cầu cung cấp những sản phẩm công nghiệp hỗ trợ phục vụ các ngành công nghiệp chế tạo, tức là sử dụng công nghệ gia công định hình và xử lý bề mặt, cũng với các vật liệu sắt thép, hợp kim, nhựa, cao su, gốm sứ, thủy tinh, giấy, gỗ, vải hay chất dẻo tổng hợp. Chỉ khác nhau về độ tinh của sản phẩm. Cùng là sản phẩm đúc nhưng vỏ động cơ và hàng rào dùng trong xây dựng đòi hỏi độ tinh hoàn toàn khác nhau là một ví dụ.

Chính mức đòi hỏi độ tinh thấp tương đối của phụ kiện vật liệu trong lĩnh vực xây dựng hạ tầng (so với cơ khí máy móc) là điểm mấu chốt bảo đảm tính khả thi của vấn đề dùng đầu tư công để nuôi dưỡng công nghiệp hỗ trợ nội địa bước ban đầu. Nếu thực hiện quản lý sử dụng đầu tư công hiệu quả, những doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nội địa nỗ lực cạnh tranh sẽ có khả năng “tập dượt” qua việc cung cấp sản phẩm cho các công trình phát triển hạ tầng bằng đầu tư công, từ đó nâng cao dần trình độ công nghệ kỹ thuật cũng như năng lực quản lý kinh doanh của mình, để có thể thâm nhập vào những thị trường đòi hỏi sản phẩm có độ tinh cao hơn trong tương lai.

Dĩ nhiên cần phải nhấn mạnh, để làm được điều này đầu tư công phải được triển khai một cách minh bạch và có tính cạnh tranh. Việc tổ chức, thực hiện và giám sát đầu tư công phải khoa học, công bình, công khai. Khoa học là dự án đầu tư công phải được khảo cứu kỹ lưỡng và tham khảo ý kiến các nhà nghiên cứu chuyên môn. Công bình và công khai là nhằm lựa chọn được những nhà cung cấp công nghiệp hỗ trợ có tinh thần doanh nghiệp thực thụ, có tư tưởng mưu cầu lợi nhuận chính đáng. Như vậy mới phát huy được hiệu quả nuôi dưỡng công nghiệp hỗ trợ nội địa của đầu tư công.

...Và việc cải cách doanh nghiệp nhà nước

Để tận dụng hiệu quả lan tỏa của đầu tư công đối với việc nuôi dưỡng kích thích sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ nói riêng cũng như của doanh nghiệp tư nhân nói chung, cần tiến hành cải cách DNNN một cách triệt để nhằm bảo đảm một môi trường cạnh tranh tự do bình đẳng thực chất. Cải cách không chỉ vì sức ép hội nhập mà phải thay đổi vì sự phát triển của quốc gia. Vấn đề cải cách DNNN cần phải được xem lại một cách cơ bản, trả lại đúng chức năng vốn có của bộ phận này.

Theo kinh tế học hiện đại, DNNN được thành lập để cung cấp hàng hóa dịch vụ công, trong chừng mực đầu tư tư nhân chưa đủ năng lực thực hiện chức năng này. Vì vậy cải cách triệt để DNNN là giải phóng bộ phận này ra khỏi những lĩnh vực phi hàng hóa dịch vụ công, trả sân chơi lại cho doanh nghiệp tư nhân. Theo cách nghĩ này thì đặt DNNN hoạt động trong cùng một môi trường pháp lý với doanh nghiệp tư nhân, như cách Việt Nam đang thực hiện, dù bỏ hết những điều kiện bảo hộ khác, thì vẫn không phải là một môi trường cạnh tranh bình đẳng. Làm như vậy vẫn là chèn ép kinh tế tư nhân. DNNN đúng nghĩa không thể chịu điều tiết chung bằng một bộ luật chung với doanh nghiệp tư nhân mà phải có khung pháp lý riêng, và chỉ được phép hoạt động trong những lĩnh vực cung cấp hàng hóa dịch vụ công, mang tính độc quyền cao.

Tóm lại, vì lý do tham nhũng mà giảm đầu tư công, hạ chỉ tiêu tăng trưởng, chần chừ thực hiện cải cách DNNN, là những biện pháp hạ sách, không thể tạo ra mà chỉ có tác dụng kìm hãm sự phát triển. Để trong vòng một hai thập kỷ tới có thể sánh vai với các cường quốc trong khu vực, cần tăng cường đầu tư công hiệu quả, mạnh dạn đặt mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số, nhưng phải đồng thời triệt để cải cách hệ thống DNNN bằng cách trở lại đúng với chức năng cung cấp hàng hóa dịch vụ công, trả lại sân chơi còn lại cho chủ thể của kinh tế thị trường là doanh nghiệp tư nhân, sử dụng đầu tư công để tạo đà phát triển cho các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tư nhân nội địa.

Source: http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/66430/Mot-cach-nhin-khac-ve-dau-tu-cong.html