Showing posts with label agriculture. Show all posts
Showing posts with label agriculture. Show all posts

Tuesday, May 15, 2012

Mía đường, mảnh đất màu mỡ?


Mặc dù tình hình kinh tế đang khó khăn, quí 1 vừa qua các doanh nghiệp trong ngành mía đường vẫn đạt được kết quả kinh doanh khả quan, thu hút sự chú ý của nhà đầu tư lớn trong lĩnh vực này.

Giá vốn tăng, lợi nhuận vẫn tăng

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến ngày 15-4 các nhà máy đã ép được 12.615.000 tấn mía, tăng 1.280.000 tấn so với cùng kỳ; lượng đường sản xuất được là 1.118.000 tấn, tăng 78.700 tấn so với cùng kỳ. Trong thời gian từ tháng 3 đến giữa tháng 4, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 220.000 tấn đường, tăng gần 147.000 tấn so với cùng kỳ năm trước.
Xét về doanh thu tài chính, kết thúc quí 1, các doanh nghiệp mía đường niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam đều công bố kết quả kinh doanh rất khả quan. Công ty cổ phần Đường Kontum (KTS) đạt lợi nhuận sau thuế quí 1 là 16,2 tỉ đồng, đạt 47% kế hoạch cả năm 2012. Lãi cơ bản trên cổ phiếu quí 1 của KTS cũng đạt mức cao nhất trong số các doanh nghiệp mía đường niêm yết (4.154 đồng/cổ phiếu).

Đường Bourbon Tây Ninh (SBT) tuy đạt lợi nhuận sau thuế cao nhất trong số các doanh nghiệp đường niêm yết (95,2 tỉ đồng), nhưng chỉ bằng 52% so với quí trước. Nguyên nhân do giá vốn đường tăng hơn 65% so với cùng kỳ nên mặc dù tổng doanh thu cao hơn cùng kỳ năm trước nhưng lợi nhuận sau thuế của SBT chỉ đạt được mức khiêm tốn, và vẫn nằm trong chỉ tiêu 2012.

Tình trạng giá bán giảm và giá vốn tăng khiến mức lợi nhuận giảm bớt cũng xảy ra tương tự ở Công ty cổ phần Đường Biên Hòa (BHS) và Mía đường Nhiệt điện Gia Lai (SEC). Doanh thu BHS tăng 13,62%, tương ứng 83 tỉ đồng so với cùng kỳ năm ngoái, tuy vậy, lợi nhuận sau thuế của BHS chỉ đạt trên 30 tỉ đồng, tương ứng 77% cùng kỳ năm trước, và chỉ đạt 22% kế hoạch năm 2012. Lợi nhuận sau thuế của SEC cũng chỉ đạt 60% cùng kỳ năm ngoái, nhưng công ty cũng đã hoàn thành 32% chỉ tiêu năm 2012 chỉ trong quí 1.

Ngoài việc phải giảm giá bán và chịu sự gia tăng của giá vốn hàng bán trong quí 1, Công ty cổ phần Mía đường Lam Sơn (LSS) còn phải gánh cả chi phí lãi vay 12,5 tỉ đồng, cao gấp hơn chục lần so với cùng kỳ năm ngoái là 937 triệu đồng. Điều này khiến lợi nhuận sau thuế của LSS chỉ ở mức khiêm tốn là 24,3 tỉ đồng, bằng một phần tư so với cùng kỳ năm trước và chỉ đạt khoảng 10% so với kế hoạch năm 2012.

Cùng lúc đó, nhu cầu mua đường năm nay của Trung Quốc khá cao. Nước này đang thiếu 2 triệu tấn đường (theo Hiệp hội Mía đường Việt Nam) và có nhu cầu mua tích trữ 1 triệu tấn. Giá bán sang thị trường nước ngoài cũng cao hơn thị trường trong nước. Điều này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mía đường lên kế hoạch mở rộng quy mô trong năm nay, là cơ hội tốt để các nhà đầu tư bước chân vào mảnh đất màu mỡ này.Bên cạnh các công ty niêm yết, mặc dù tình hình kinh tế đang khó khăn, nhiều công ty đại chúng trong ngành mía đường vẫn đạt được kết quả kinh doanh khả quan. Tiêu biểu có Công ty cổ phần Mía đường 333 (S33), Công ty cổ phần Mía đường La Ngà, Công ty cổ phần Đường Quảng Ngãi... Nguyên nhân chính do sản lượng mía đường vụ mùa 2011-2012 lần đầu tiên vượt nhu cầu tiêu thụ trong nước, các doanh nghiệp có điều kiện xuất khẩu nhiều hơn.

Nhà đầu tư lớn trong lĩnh vực mía đường

Sự lên ngôi của các doanh nghiệp mía đường vụ mùa 2011-2012 đã thu hút sự chú ý của giới đầu tư, trong đó có gia đình ông Đặng Văn Thành, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (STB).

Trên thực tế, mía đường không phải là lĩnh vực mới mẻ với gia đình ông Thành. Các công ty của nhóm cổ đông Đặng Văn Thành đã đầu tư vào các doanh nghiệp mía đường từ cách đây nhiều năm. Đơn cử Công ty cổ phần Thành Thành Công do bà Huỳnh Bích Ngọc (vợ ông Thành) làm Chủ tịch Hội đồng quản trị cũng là một doanh nghiệp mía đường từ năm 1979. Thành Thành Công và Công ty Chứng khoán Sacombank (SBS) đều là cổ đông quan trọng của Đường Ninh Hòa (NHS) với tỷ lệ cổ phần lần lượt là 23,24% và 5,79% từ trước khi doanh nghiệp này niêm yết vào tháng 6-2010 tại HSX.

Chỉ bốn tháng sau khi Đường Ninh Hòa niêm yết thì Thành Thành Công chính thức chào mua và Đường Ninh Hòa trở thành công ty con của Thành Thành Công từ đó (tỷ lệ sở hữu 51%). Thành Thành Công cũng đồng thời là cổ đông sáng lập của Công ty cổ phần Đường Bình Định và còn có một công ty con là Công ty TNHH Thương mại Thành Thành Công chuyên kinh doanh đường.

Cũng trong năm 2010, nhóm cổ đông Đặng Văn Thành thâu tóm Công ty cổ phần Bourbon Tây Ninh (SBT) với cổ phần sở hữu lên tới 64% do ba công ty, Công ty cổ phần Thành Thành Công, Công ty TNHH Đặng Thành, và SBS đại diện tại SBT (nay còn 49,5% sau khi SBS rút khỏi SBT), cũng do bà Huỳnh Bích Ngọc giữ vị trí Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Một công ty mía đường khác đang giao dịch ở Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn là Công ty cổ phần Mía đường 333 (S33) cũng chịu ảnh hưởng của nhóm cổ đông Đặng Văn Thành bởi NHS sở hữu 41,12% vốn điều lệ của công ty. Thành Thành Công cũng sở hữu trực tiếp 2% và gián tiếp 19,85% vốn điều lệ S33 thông qua khoản đầu tư của NHS. Ngoài ra, NHS cũng sở hữu 41,9% vốn điều lệ Đường Phan Rang. Gần đây nhất bà Huỳnh Bích Ngọc được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quản trị Đường Biên Hòa tại đại hội đồng cổ đông thường niên 2012…

Như vậy là trong số 39 doanh nghiệp mía đường trong cả nước thì có đến gần chục doanh nghiệp chịu ảnh hưởng hoặc có mối quan hệ với nhóm cổ đông Đặng Văn Thành. Hơn nữa, đây là những công ty đóng vai trò quan trọng trong tổng sản lượng mía đường cả nước, theo tính toán, tương đương 32,6% tổng sản lượng đường, và 14% tổng sản lượng mía ép.

Ở một thị trường mía đường đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ như hiện nay, kiểm soát một tỷ trọng lớn của tổng sản lượng mía đường sẽ đem lại lợi thế không nhỏ cho một nhóm tổ chức trong việc kiểm soát giá cả và cung cầu trên thị trường. Trước thực tế sản lượng mía đường hiện nay chỉ đủ cho nhu cầu trong nước, đây sẽ là một thách thức. Những người đầu tư vào ngành mía đường cần có một chiến lược đầu tư đúng đắn và bền vững cho nguyên liệu, đảm bảo đáp ứng ổn định nhu cầu trong nước và tiến tới xuất khẩu ra nước ngoài. Có như vậy mới giữ được sự màu mỡ của mảnh đất mía đường.

Source: http://www.thesaigontimes.vn/Home/kinhdoanh/dautu/76254/Mia-duong-manh-dat-mau-mo?.html

Wednesday, December 14, 2011

Giới đầu tư tài chính đang thao túng?

(TBKTSG) - Năm 2011 thị trường gạo có nhiều biến động, đặc biệt là giá gạo nguyên liệu. Nhiều ý kiến trong giới kinh doanh gạo cho rằng giá gạo liên tục tăng từ đầu năm - kể cả thời điểm chính vụ - là do có bàn tay của giới đầu tư tài chính. Liệu có đúng như vậy?

Để thâm nhập ngành gạo, giới đầu tư tài chính có thể thành lập các công ty mới hoặc đầu tư vào các công ty/tác nhân hiện tại để nâng cấp hoạt động kinh doanh. Đó có thể là các công ty xuất khẩu hoặc doanh nghiệp cung ứng. Có lập luận cho rằng, nguồn vốn kinh doanh chảy vào dồi dào nhưng nguồn cung hàng hoá không có nhiều thay đổi sẽ làm cho sức mua tăng, đẩy giá lên cao.

Cách lập luận như trên chưa đủ sức thuyết phục bởi năm 2011 lượng xuất khẩu tăng rất mạnh nên tạo ra áp lực mua nguyên liệu nhiều hơn mọi khi. Hơn nữa, trong một thị trường có nhiều kỳ vọng về giá đi lên thì xu hướng đầu cơ xảy ra ở tất cả các khâu và với mọi tác nhân, nên mặc dù có thể có sự huy động nguồn lực vào kinh doanh gạo nhưng chưa thể khẳng định đó là dòng tiền đầu tư bài bản. Giới đầu tư tài chính thường bơm vốn thông qua các pháp nhân hoặc đầu tư vào doanh nghiệp sẵn có, nhưng vì đa số các doanh nghiệp kinh doanh gạo chưa lên sàn chứng khoán nên con số đó không nhiều.

Trong khi đó, đối với thương lái, nhiều khả năng nguồn vốn huy động chủ yếu là kênh “phi chính thống” chứ không phải là đầu tư của giới tài chính.

Ngoài ra, còn một khâu nữa trong chuỗi giá trị lúa gạo có thể xem xét liệu giới đầu tư tài chính đã tham gia mạnh chưa đó là xuất khẩu. Số liệu kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp hàng đầu trong năm 2010 và tám tháng đầu năm 2011 cho thấy, trong danh sách 15 doanh nghiệp hàng đầu trong hai năm gần đây không có nhiều tên tuổi “mới hoàn toàn”.

Một phân tích ở khía cạnh khác là xem xét tỷ trọng doanh nghiệp hàng đầu có thay đổi trong tổng số các doanh nghiệp xuất khẩu hay không. Và nếu các doanh nghiệp cỡ trung bình ngày càng xuất khẩu nhiều hơn, đó có thể là giả thiết giới đầu tư đã bơm vốn vào các doanh nghiệp này?

Việt Nam có trên 200 doanh nghiệp xuất khẩu gạo và trước đây thị phần chủ yếu thuộc về hai tổng công ty VNF1, VNF2. Tỷ trọng của hai doanh nghiệp này cũng như 10 doanh nghiệp hàng đầu đã chiếm trên 60% kim ngạch xuất khẩu. Số liệu thống kê cho thấy hiện nay các doanh nghiệp quen thuộc vẫn đứng vững trong top 10, top 15 hoặc top 20..., chứng tỏ chưa có một tên tuổi mới nào xuất hiện.

Giới đầu tư tài chính đang thao túng?Giới đầu tư tài chính đang thao túng?Giả sử có giới đầu tư tài chính nhảy vào thì “miếng bánh” sẽ được chia nhỏ hơn, tức tỷ trọng xuất khẩu của nhóm doanh nghiệp nói trên sẽ giảm xuống trong tổng lượng xuất khẩu. Tuy nhiên, số liệu so sánh tám tháng đầu năm 2011 và cả năm 2010 cho thấy các tỷ trọng của top 10, 15, 20... trong tổng xuất khẩu không có sự dịch chuyển nào đáng kể. Như vậy, có thể khẳng định ít nhất cho đến thời điểm hiện tại, giới đầu tư tài chính vẫn chưa thao túng được khâu xuất khẩu gạo, hoặc mức đầu tư chưa đủ lớn để xoay chuyển tình hình.

Tuy nhiên, với những doanh nghiệp mới được cấp phép theo Nghị định 109 thì đó là tín hiệu cho thấy đầu tư ngoài ngành đã bắt đầu chảy vào ngành xuất khẩu gạo. Chắc hẳn đang có những dự án đầu tư chế biến xuất khẩu gạo được trình lên các cấp có thẩm quyền cũng như kêu gọi vốn đầu tư trong nước và quốc tế để triển khai. Những năm tới, cuộc chơi sẽ thay đổi theo hướng cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn.

Source: http://www.thesaigontimes.vn/Home/kinhdoanh/xuatnhapkhau/67374/Giói-dàu-tu-tài-chính-dang-thao-túng?.html

Thursday, November 10, 2011

Rice: Rice Asia’s rice bowls

IN ASIA kingdoms are said to rise and fall with the shifting price of rice. So the continent’s rulers presumably ought to be worried by the effects of disastrous floods in Thailand, the world’s biggest exporter of the white grains (see chart).

Last year Thailand provided about a third by volume of all internationally traded rice—around 10m tonnes. Thailand’s government reckons that some 5m-6m tonnes (nearly a fifth of the country’s total production) might have been destroyed by the deluge. Some analysts say that the damage could be even more severe. Pessimists worry that Thailand’s exports could be cut by 3m-4m tonnes. With the world trade in rice expected to hit over 33m tonnes in 2011 this could take around 10% out of the market. If the same thing happened with oil or wheat the results would be calamitous.

But the nature of the rice market means that the consequences may not be as severe. Rice is a resilient crop, and the floods may not do as much damage as some fear. Although rice is a staple for half the world’s population, international trade is small compared with the 451m tonnes that will pop out of the ground in the 2010-11 growing season. Only about 7% of the total crop hits global markets, compared with 20% or so for wheat.

Politics and tastes mean that rice is mainly consumed where it is grown. Rice is such a vital foodstuff in Asia—some 90% is grown and eaten there—that policies aim at self-sufficiency. Domestic markets are usually heavily regulated and protected. It is one of the most politicised of commodities, according to Concepción Calpe of the Food and Agriculture Organisation. Moreover rice comes in many varieties: long-grain, short-grain, sticky, fluffy and so on. Consumers want their customary sort, not an unfamiliar rice from far afield.

The result is that many rice-eating countries are detached from the price swings in global markets, according to Darren Cooper of the International Grains Council, a research body. Others aim to be. China, the world’s biggest producer at around 130m tonnes a year, is largely self-sufficient. The Philippines, the world’s biggest importer, plans to cultivate all its own rice by 2013.

What’s more, it has been an excellent year for rice crops on the whole. Droughts in Arkansas, America’s main rice-growing area, have hit the crop: exports will be closer to 3m than 4m tonnes this year. But bumper crops in India and Pakistan should help offset a shortfall in Thai exports.

The excellent harvest in India convinced politicians, once fearful of food inflation, to lower protectionist defences. The government lifted an export ban on white rice in September, allowing 2m tonnes to be exported before Thailand’s floods. Indian traders, worried that the decision will be reversed, have quickly sold almost all the allowance at rock-bottom prices. This has proved good news for African countries, which import around 10m tonnes annually, a third of the global trade.

The floods will have some impact. Thailand’s benchmark rice is currently fetching around $630 a tonne, roughly what it cost at the start of September. Credit Suisse thinks prices might hit $700 before the end of the year. More gloomy forecasters say that it could even top $800. But kingdoms will not totter.

Source: http://www.economist.com/node/21538099

Thursday, September 22, 2011

Clearing the usual suspects

Clearing the usual suspects

NO ONE likes paying more to fuel their car. The fluctuations in the oil price caused by political turmoil in the Middle East are hard enough to bear. But the idea that speculators are driving commodity prices beyond their “true” level seems particularly galling.

To many, that oil went from $65 a barrel in June 2007 to $145 in July 2008, and back down to $31 in December of the same year, is proof the price was not being set by supply and demand. Academics who have proclaimed on the issue come down on both sides of the argument. A recent report* from the OECD analyses the literature, applies its own statistical tests and finds investors not guilty.

Technically speaking, the report does not deal with the influence of speculators on commodity markets but with the role of index-tracking funds. But the spectacular growth of these funds (from $90 billion at the start of 2006 to almost $200 billion at the end of 2007) coincided with the boom in raw-materials prices, so it is hardly surprising they have been fingered as suspects.

The big buyers were pension funds and endowments. They became convinced, after the bear market of 2000-02, that they were overcommitted to shares. So they started to diversify into “alternative” asset classes that were not correlated with equities yet offered the prospect of hefty returns. Commodities fitted the bill.

Surely this lumbering herd must have had an effect on prices? There are some sound theoretical reasons why they might not. For a start the index funds buy futures—a contract to buy or sell an asset at a future date—not the physical good. They are not cornering the commodity, as the Hunt brothers from Texas attempted to do with silver in the late 1970s.

Higher futures prices could have sent a signal to commodity producers, who then decided to hoard their stocks rather than sell them in the cash market. The shortage might then have pushed spot prices higher. The evidence, however, is that inventories were falling, not rising.

An even more telling argument is that commodities without futures markets (apples, edible beans) or futures markets where index funds did not get involved (milk, rice) also saw price rises during 2006-08. Nor was there any correlation between the size of index funds in particular commodities and the price rise for those raw materials.

After analysing data on both prices and individual holdings from America’s Commodity Futures Trading Commission, the OECD study found that there was “no convincing evidence that positions held by index traders…impact market returns”; indeed, the OECD reckons that larger positions led to lower market volatility (although data issues mean the finding is more convincing for agricultural products than for energy markets).

So if the funds are innocent, who was guilty? The report does not give an answer but some economists have made the attempt, variously citing demand from China and other developing nations, the diversion of crop use from food to fuel oil, and production constraints.

These explanations may seem to strain plausibility, given that the oil price fell by 79% within five months. The Chinese did not suddenly cut their oil consumption by four-fifths. But if supply and demand are in close balance (as they were in the oil market), even very small changes in either component can lead to large price shifts.

In his book, “The Logic of Life: Uncovering the New Economics of Everything”, Tim Harford postulates a “marriage supermarket” in which men and women who agree to wed can present themselves at the checkout and share $100. Given equal numbers of men and women, say 20 apiece, one would expect couples to split the $100 down the middle. But assume there are 20 women and just 19 men. If the women are determined to get married, this shortage of males will cause a bidding war. None will want to be left in the aisles so they will agree to cut their share of the pot. In theory, the lack of just one male will mean the men get to keep $99.99 of the proceeds, leaving the women with one cent.

Similarly, in boom conditions commodity consumers will be so desperate to get their hands on raw materials that they will drive prices up to absurd levels, at least for a short time. When demand falters, or new supply shows up, the price bubble can evaporate as quickly as it arose, without a speculator in sight.

Source: http://www.economist.com/node/16432870


Giá lương thực thế giới và lạm phát ở Việt Nam

(TBKTSG) - Nhiều người cho rằng chính sách kích cầu của Mỹ là nguyên nhân của sự tăng giá đột biến hàng hóa trong thời gian qua. Chính điều này tạo nên áp lực lạm phát ở các nước mới nổi, trong đó có Việt Nam. Giả thuyết này mặc dù dễ thuyết phục tuy nhiên lại vấp phải khá nhiều vấn đề trong suy luận và số liệu thực tiễn.

Tại sao giá lương thực thế giới tăng?

Cần chú ý là gói kích cầu “nới lỏng định lượng 1” được thực hiện từ tháng 1-2009 đến tháng 3-2010. Việc tăng giá các mặt hàng lương thực xảy ra muộn hơn rất nhiều so với các mặt hàng công nghiệp khác. Theo chỉ số giá của IMF, có thể thấy giá cả hàng hóa công nghiệp tăng nhanh ngay sau khi sản lượng công nghiệp của thế giới chạm đáy vào tháng 2-2009. Còn giá lương thực trong cả năm 2009 gần như không có biến động mạnh (hình 1). Tuy nhiên, giá lương thực bắt đầu tăng nhanh vào tháng 8-2010 ngay sau khi thời tiết xấu ảnh hưởng lớn đến các vụ mùa ở Nga, Ukraine, Kazakhstan, và một số nước khác.

Điểm thứ hai là tổng cung so với tổng cầu của thế giới về lương thực. Giá lương thực thế giới đạt đỉnh vào tháng 4-2011. Theo số liệu thống kê và dự báo vào tháng 4 của USDA (Bộ Nông nghiệp Mỹ) về tổng sản lượng ngũ cốc của thế giới, điều thấy rõ nhất là thế giới đã bị một năm mất mùa khá trầm trọng. Tổng sản lượng ngũ cốc giảm gần 3%, nếu tính luôn cả lượng tăng dân số thế giới thì sản lượng ngũ cốc trên đầu người giảm gần 5%.

Vấn đề là tại sao sản lượng giảm chỉ có 5% mà giá cả của một số lương thực lại tăng gần 100%? Một phần có thể được giải thích do nhu cầu về lương thực tăng nhanh hơn tốc độ tăng của dân số. Ví dụ, Trung Quốc đã trở thành một nước nhập siêu rất lớn về ngũ cốc để thỏa mãn nhu cầu về thức ăn gia súc. Nhưng điểm quan trọng là độ co giãn của cầu ở các mặt hàng ngũ cốc rất thấp (demand inelasticity). Có nghĩa là, giá phải tăng rất mạnh thì nhu cầu mới giảm được. Theo USDA, hệ số co giãn cầu của các mặt hàng ngũ cốc tại Mỹ là 0,04. Điều này có nghĩa giá cần phải tăng 25% (1/0,04) để nhu cầu giảm 1%.

Ở một khía cạnh nào đó, các gói kích cầu có thể làm trầm trọng thêm việc tăng giá của các mặt hàng lương thực. Nhưng nguyên nhân chính của việc tăng giá lương thực thế giới trong thời gian qua là sự mất mùa trong năm 2010.


Một vài dự báo về giá lương thực thế giới

Dự báo về thu hoạch vụ mùa 2011-2012 tốt hơn rất nhiều so với vụ mùa 2010-2011. Theo báo cáo của FAO (Tổ chức Lương nông thế giới) và USDA vào tháng 7, tổng sản lượng ngũ cốc trong vụ mùa 2011-2012 sẽ tăng khoảng 2,5-2,9% so với vụ mùa 2010-2011. Chính điều này đã làm cho giá ngũ cốc giảm trong ba tháng vừa qua. Giá bắp và lúa mì đã giảm nhẹ từ 6-10% kể từ tháng 4 sau một giai đoạn tăng nóng gần 100%.

Lượng hàng dự trữ của các loại ngũ cốc đã không còn giảm mạnh và có khả năng tăng trở lại. Đặc biệt là dự trữ gạo vẫn tiếp tục tăng trong vụ mùa 2011-2012 sau khi sản lượng đạt kỷ lục vào vụ mùa 2010-2011.

Nếu không có vấn đề lớn về biến động thời tiết trong thời gian tới, bất chấp gói kích cầu lần 3, sẽ không có sự tăng giá đột biến ở các mặt hàng ngũ cốc như năm 2010 và đầu năm 2011.

Lạm phát do cơ cấu thị trường?

Một câu hỏi được đặt ra là, tại sao các nước lân cận có một số điểm tương đồng với kinh tế Việt Nam như Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, giá thực phẩm cũng tăng cao nhưng với tỷ lệ thấp hơn so với Việt Nam? Mặc dù Việt Nam là nước xuất siêu lương thực nhưng chỉ số giá lương thực tăng cao hơn gấp 2-3 lần các nước lân cận. Điều này cho thấy ảnh hưởng của giá thế giới chỉ tác động phần nhỏ đến giá cả Việt Nam.

Giá lương thực thực phẩm có thể biến động mạnh do ảnh hưởng của thời tiết và dịch bệnh, chứ không chỉ do ảnh hưởng từ chính sách tiền tệ và tài khóa. Điều này cũng lý giải việc ở hầu hết các nước, nhất là những nước có nhóm giá lương thực thực phẩm chiếm quyền số cao trong rổ hàng hóa tính CPI, khi tính lạm phát cơ bản thì chỉ số giá lương thực thực phẩm được loại ra. Vì vậy có thể nói, yếu tố tiền tệ và tài khóa ở Việt Nam không phải là nguyên nhân làm cho giá lương thực thực phẩm của Việt Nam tăng cao hơn các nước trên.

Chúng ta phân chia các nước ra làm hai loại: các nước phải nhập khẩu gạo và các nước xuất gạo. Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới và cũng là nước xuất khẩu gạo duy nhất có giá gạo tăng gần 37%, hơn gấp đôi tỷ lệ tăng giá thế giới trong cùng giai đoạn (hình 2). Việc tiền đồng mất giá khoảng 7,2% vào tháng 2 có thể giải thích được một phần sự chênh lệch trên. Nhưng độ chênh lệch vẫn quá lớn trong bối cảnh lạm phát vào cuối năm 2010 đã lên rất cao.

Tuy nhiên, lạm phát của Việt Nam có thể bắt nguồn từ một nguyên nhân sâu xa hơn, từ khâu phân phối khi chênh lệch giữa giá thu mua và giá bán lẻ ngày càng lớn. Một ví dụ có thể thấy rõ là thị trường thịt. Tính đến tuần đầu của tháng 7, giá thịt heo thăn bán lẻ tại Hà Nội đã tăng khoảng 82% so với đầu năm, trong khi giá mua heo hơi ở Hà Nội chỉ tăng khoảng 51%. Điều này cho thấy lạm phát một phần rất lớn đến từ cơ cấu thị trường. Giá bán lẻ tăng liên tục từ đầu năm bất chấp giá thu mua có nhiều giai đoạn chững lại hay giảm, cho thấy cơ cấu thị trường kém hiệu quả.

Một vấn đề quan trọng nhưng lại rất ít được chú ý là cơ cấu thị trường, đặc biệt của thị trường lương thực thực phẩm, ảnh hưởng rất lớn đến lạm phát. Cơ cấu thị trường ở đây bao gồm cơ chế giám sát điều hành, cơ cấu về quy mô chăn nuôi, hệ thống thu mua phân phối, hệ thống hàng tồn kho cũng như vận chuyển, các tầng lớp trung gian… Sự yếu kém của cấu trúc thị trường thường chỉ biểu hiện mạnh khi kỳ vọng lạm phát cao. Có thể nói kỳ vọng lạm phát cao cùng với sự yếu kém của cấu trúc thị trường là nguyên nhân chính dẫn đến mức tăng bất thường của giá lương thực thực phẩm ở nước ta.

Chính điều này luôn làm cho lạm phát của chúng ta một khi đã lên thì lên rất mạnh và nhanh. Rõ ràng bài toán lạm phát đã không được quan tâm và hiểu một cách đúng mức.

Có lẽ chúng ta đã đặt kỳ vọng quá lớn và không đúng vào khả năng kiểm soát lạm phát của chính sách tiền tệ. Việc kiểm soát lạm phát ở Việt Nam đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ các chính sách và một chiến lược dài hơi để kiểm soát lạm phát trong trung và dài hạn, không nên chỉ tập trung nguồn lực vào kiểm soát lạm phát ngắn hạn. Một trong những việc cần làm để kiểm soát lạm phát trong trung và dài hạn là một chiến lược đầu tư vừa nguồn vốn vừa tri thức vào lĩnh vực nông nghiệp.

Source: http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/sotay/59504/