Showing posts with label vietnam. Show all posts
Showing posts with label vietnam. Show all posts

Tuesday, May 1, 2012

TPHCM tăng mạnh nguồn cung mặt bằng bán lẻ

TBKTSG Online) - Các công ty tư vấn bất động sản dự báo trong vòng ba năm tới TPHCM sẽ có một lượng cung diện tích mặt bằng bán lẻ lớn gia nhập thị trường khi hàng loạt dự án vừa mới khởi công hoặc sắp hoàn thành.
Nguồn cung tăng nhanh
Theo các công ty tư vấn bất động sản, các chủ đầu tư đang chạy đua đưa vào khai thác các dự án mới cũng như triển khai thêm nhiều dự án đã "đóng băng" từ lâu.
Điển hình là chủ đầu tư dự án toà tháp 41 tầng Saigon One - Công ty cổ phần địa ốc Saigon M&C vừa chỉ định CB Richard Ellis Việt Nam làm đại lý tiếp thị và cho thuê độc quyền khu trung tâm thương mại 6 tầng với tổng diện tích 13.000 m2 của dự án. Công trình nằm ngay góc Hàm Nghi –Tôn Đức Thắng, quận 1 sẽ đưa vào khai thác trong năm nay.
Dự án Vincom Center A (Eden), nằm ngay khu tứ giác Đồng Khởi- Nguyễn Huệ- Lê Lợi- Lê Thánh Tôn có quy mô 6 tầng ngầm và 9 tầng nổi, khi đưa vào khai thác trong tháng 10 tới sẽ góp thêm khoảng 38.000 m2 diện tích bán lẻ. Cách đó không xa là tòa nhà Quảng trường Thời Đại (còn gọi là Times Square) đang được hoàn thành trên đường Nguyễn Huệ (quận 1) cũng sẽ đóng góp một phần diện tích thương mại ở các khối đế…
Đi xa hơn ra phía bắc thành phố là dự án Pico Saigon Plaza trên đường Cộng Hòa, quận Tân Bình, có 5 tầng kinh doanh thương mại và dịch vụ với tổng diện tích 32.000 m2. Hướng về phía nam thì có khu thương mại Sunrise City gồm 5 tầng lầu với hơn 70.000 m2 sàn… Đó là chưa kể những dự án cao ốc căn hộ sắp hoàn thành đưa vào khai thác trong đó cũng có những khối đế thương mại lớn.
Theo Công ty tư vấn bất động Colliers International Việt Nam, với nguồn cung diện tích bán lẻ lớn, lạm phát cao và chính sách thắt chặt tiền tệ sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu thuê mặt bằng bán lẻ. Do đó công suất thuê và giá chào thuê trung bình sẽ giảm trong năm nay và những năm tới.
Đồng tình quan điểm này, Công ty tư vấn bất động sản Knight Frank cũng cho rằng hàng loạt dự án khác như SC VivoCity (quận 7), Lega Fashion House (quận 10), Cộng Hòa Garden (quận Tân Bình), Bến Thành Towers (quận 1)… vừa được khởi công xây dựng sẽ hoàn thành trong 2-3 năm tới, sẽ làm gia tăng đáng kể nguồn cung bán lẻ trong tương lai. Điều này chắc chắn sẽ gây áp lực lên giá thuê của chủ đầu tư.
Chiều hướng giảm giá
Giới kinh doanh ngành hàng thời trang trong nước cho rằng hai năm gần đây họ có thể vào mở kinh doanh ở những trung tâm thời trang cao cấp thay vì lâu nay chủ cho thuê chỉ nhắm đến các thương hiệu thời trang quốc tế…
Nguyên nhân theo giới kinh doanh là nguồn cung mặt bằng ngày càng tăng, trong khi việc kinh doanh ở các trung tâm thương mại không phải lúc nào cũng thuận lợi do tình hình kinh tế khó khăn hiện nay. Mới đây nhất là siêu thị FiviMart đã quyết định dừng thuê mặt bằng tại khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng, quận 7 khi hết thời hạn thuê. Ngay cả các toà cao ốc có mặt bằng thương mại khối đế giờ đây cũng phải thu hẹp bớt phần diện tích cho thuê bán lẻ vì kinh doanh khó khăn.
Các công ty tư vấn bất động sản cho rằng với tình hình lạm phát còn tăng cao, kinh tế khó khăn, thị trường ế ẩm thì giá cho thuê mặt bằng bán lẻ ở các trung tâm thương mại trong thời gian qua cũng phải điều chỉnh theo chiều hướng giảm.
Theo thống kê của Colliers International Việt Nam cho thấy giá thuê trung bình của trung tâm thương mại, trung tâm bách hoá và khối đế bán lẻ trong quí 1 vừa rồi đạt khoảng 70,6 đô la Mỹ/m2/tháng (không bao gồm phí dịch vụ và thuế VAT), giảm khoảng 4% so với cùng kỳ năm trước.
Tình trạng này cũng đang diễn ra đối với toà tháp Bitexco 68 tầng – công trình được xem là điểm nhấn của thành phố có lợi thế thu hút các nhà bán lẻ thuê kinh doanh. Thế nhưng khoảng 18 tháng sau khánh thành, gần một nửa diện tích 6 tầng đế dành cho bán lẻ hiện vẫn còn trống, dù thời gian qua, chủ toà nhà đã quyết định giảm giá thuê từ 78 - 120 đô la Mỹ/m2/tháng trước đây xuống còn 64 -110 đô la Mỹ/m2/tháng.
Vẫn còn tiềm năng
Tuy TPHCM có nguồn cung mặt bằng bán lẻ tăng mạnh trong vài năm tới nhưng các đơn vị tư vấn bất động sản vẫn lạc quan với động thái đua xây trung tâm thương mại, siêu thị này.
Đại diện các công ty tư vấn bất động sản cho rằng, trong 3 năm nữa nguồn cung tăng mạnh nhưng rất khó đoán thị trường sẽ đi theo chiều hướng nào. Bởi việc kinh doanh thường phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, lượng cung cầu của từng thời điểm, thu nhập của người tiêu dùng...
Các doanh nghiệp bán lẻ cũng như giới phân tích cho rằng nguồn cung mặt bằng thương mại của thành phố vẫn chưa nhiều so với các nước trong khu vực. Phần lớn các doanh nghiệp bán lẻ cũng như các công ty tư vấn đầu tư đánh giá rằng thị trường bán lẻ hiện chỉ khó khăn tức thời do ảnh hưởng của nền kinh tế.

Theo thống kê của Công ty Colliers International Việt Nam, tính đến quí 1-2012, tổng nguồn cung diện tích bán lẻ tại TPHCM đạt được khoảng 646.000 mét vuông, tăng 7% so với cùng kỳ năm ngoái. Nguồn cung này đến chủ yếu từ trung tâm thương mại, trung tâm bách hoá và siêu thị, chiếm khoảng 87% tổng nguồn cung.

Theo báo cáo nghiên cứu thị trường 2012 do công ty tư vấn Knight Frank thực hiện, Việt Nam thuộc một trong năm thị trường bán lẻ mang lại lợi nhuận cao nhất thế giới. Colliers International Việt Nam cũng đánh giá cao về triển vọng thị trường bán lẻ TPHCM với lợi thế về dân số trẻ, tốc độ đô thị hóa cao, thu nhập khả dụng tăng nhanh.
Điều này lý giải vì sao mà nhiều nhà bán lẻ nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam như Parkson, Lotte, Big C… cho biết vẫn tiếp tục đẩy mạnh việc mở rộng kinh doanh. Trong khi đó, nhiều nhà bán lẻ nước ngoài khác cũng đang thăm dò muốn tham gia thị trường. Ba nhà bán lẻ lớn nước ngoài tuyên bố tham gia vào thị trường sắp tới là Takashimaya, Aeon (Nhật) và Temasek của Singapore.
Ông Nguyễn Thành Nhân, Phó tổng giám đốc Saigon Co.op, cho rằng thị trường bán lẻ hiện đại Việt Nam chỉ chiếm 20% trong tổng thị trường. Đánh giá về cơ hội kinh doanh tại Việt Nam, ông Nhân cho rằng dân số trẻ, mô hình bán lẻ hiện đại chưa có nhiều, nên được xem là cơ hội cho các nhà bán lẻ.
Đại diện Công ty Savills cho rằng so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia thì nguồn cung diện tích trung tâm thương mại của Việt Nam còn rất thấp.
Trong khi đó Việt Nam luôn được đánh giá là thị trường bán lẻ hấp dẫn và các thương hiệu thời trang quốc tế sẽ tiếp tục vào Việt Nam trong thời gian tới khi nhiều dự án trung tâm thương mại ở khu vực trung tâm TPHCM đang xây dựng sẽ hoàn thành và đưa vào khai thác.

Source: http://www.thesaigontimes.vn/Home/kinhdoanh/thuongmai/75794/TPHCM-tang-manh-nguon-cung-mat-bang-ban-le.html

Thursday, April 19, 2012

Chuyển dịch mới từ đầu tư Nhật

(TBKTSG Online) - Trong lúc nhiều địa phương đang cố gắng thu hút các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Nhật vào phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, thì các doanh nghiệp Nhật hoạt động trong lĩnh vực thương mại, bất động sản, công nghệ thông tin, dịch vụ và sản xuất hàng tiêu dùng lại đang hướng vào Việt Nam ngày càng nhiều.

Xu hướng này được một số chuyên gia Nhật dự báo 3-4 năm trước và đến thời điểm này được xem là thể hiện rất rõ khi hàng loạt doanh nghiệp Nhật bước chân vào thị trường Việt Nam qua nhiều lối đi khác nhau.

Nhằm vào thương mại

Đưa nguyên liệu thô, máy móc từ Nhật đến Việt Nam và xây dựng nhà máy để sản xuất sản phẩm xuất khẩu vẫn là xu hướng đầu tư chính của doanh nghiệp Nhật. Tuy nhiên, khuynh hướng đầu tư mới của doanh nghiệp Nhật gần đây là muốn xây dựng cơ sở kinh doanh, cửa hàng bán lẻ hay cả siêu thị lớn nhằm đưa các loại sản phẩm được sản xuất tại Nhật và các nước vào kinh doanh ở thị trường Việt Nam.

Trong khi chuỗi cửa hàng tiện lợi hàng đầu của Nhật gồm Family Mart, MiniStop… đang tăng cường sự hiện diện của mình qua việc mở rộng hệ thống cửa hàng kinh doanh ở TPHCM thì mới đây tập đoàn bán lẻ hàng đầu của Nhật, Aeon chính thức công bố sự hiện diện của mình tại thị trường Việt Nam, đồng thời công bố dự án xây dựng khu trung tâm thương mại đầu tiên rộng hơn 3,5 héc ta trong dự án Celadon City (phường Sơn Kỳ, quận Tân Phú, TPHCM) do TTJSC làm chủ đầu tư.

Theo đó, Aeon sẽ đầu tư khoảng 100 triệu đô la Mỹ để xây dựng khu thương mại này và dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2014. Với thiết kế của siêu thị tổng hợp, đối tượng khách hàng mà Aeon hướng đến là tầng lớp người dân có thu nhập trung bình.

Ngoài những nhà bán lẻ trên, tập đoàn bán lẻ cao cấp của Nhật Takashimaya cũng đang hướng vào thị trường Việt Nam. Đi cùng với nhà bán lẻ này sẽ là những thương hiệu thời trang danh giá trên thế giới.

Tập đoàn Takashimaya cho biết đã hoàn thành việc ký hợp đồng thuê mặt bằng rộng 15.000 m2 tại vị trí đắc địa của trung tâm quận 1, TPHCM. Để chuẩn bị cho sự có mặt chính thức vào năm 2015 tại thị trường Việt Nam, hiện tập đoàn này đang tiến hành thành lập văn phòng dự án và làm thủ tục đăng ký mở một công ty tại TPHCM.

Việc các nhà bán lẻ Nhật hướng vào thị trường Việt Nam, theo Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật (Jetro) tại TPHCM, đã được dự báo từ năm 2009 khi Việt Nam chính thức mở cửa cho doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài kinh doanh tại thị trường trong nước.

Đánh giá về cơ hội kinh doanh tại Việt Nam, các nhà bán lẻ Nhật cho rằng dân số trẻ, mô hình bán lẻ hiện đại chưa có nhiều, nên được xem là cơ hội cho bất cứ các nhà bán lẻ nào trên thế giới, mặc dù hiện nay Việt Nam vẫn đang sử dụng nhiều biện pháp bảo vệ bán lẻ trong nước.

Tiêu dùng nội địa

Dân số trẻ, thu nhập đang được cải thiện, thị hiếu tiêu dùng gần gũi với người Nhật là những điểm khiến thị trường tiêu dùng Việt Nam đang trở nên hấp dẫn đối với doanh nghiệp Nhật. Nhìn thấy lợi thế về dân số đông và trẻ này của Việt Nam, các nhà đầu tư Nhật đang đẩy mạnh đầu tư vào ngành hàng tiêu dùng. Đây là lĩnh vực được các chuyên gia trong nước đánh giá có tốc độ tăng trưởng nhanh trong những năm gần đây.

Muốn xâm nhập sớm thị trường Việt Nam, giải pháp đầu tư gián tiếp thông qua mua lại, mua cổ phần chiến lược được các doanh nghiệp Nhật chọn lựa nhiều hơn, thay vì tự đầu tư từ ban đầu nhằm tiết kiệm thời gian.

Bên cạnh đó, do đồng yên tăng giá so với đồng đô la Mỹ, các tập đoàn lớn của Nhật Bản cũng có xu hướng mua cổ phần các công ty ở Việt Nam để bảo toàn vốn cũng như mở rộng thị trường. Gần đây nhất là Tập đoàn Unicharm của Nhật Bản mua lại 95% cổ phiếu của Công ty cổ phần Diana Việt Nam với tổng giá trị khoảng 128 triệu đô la Mỹ trong năm nay nhằm mở rộng thị trường.

Các thương vụ M&A tiêu biểu khác trong lĩnh vực hàng tiêu dùng gồm Kirin Holding mua lại cổ phần chi phối tại Công ty cổ phần Thực phẩm quốc tế - Interfood (IFS), Daio Paper mua cổ phần của Giấy Sài Gòn...

Đình đám nhất cũng phải kể đến thương vụ Tập đoàn Ezaki Glico Co, Ltd - chuyên về bánh kẹo và thực phẩm tại Nhật mua khoảng 10% vốn điều lệ của Kinh Đô... Việc mua cổ phần này, Glico cho biết sẽ tạo đòn bẩy cho sản phẩm cao cấp của mình phân phối tại thị trường Việt Nam, thông qua hệ thống phân phối của Kinh Đô

“Thông qua việc hợp tác với Kinh Đô, chúng tôi mong sẽ được chia sẻ lợi ích từ vị trí dẫn đầu thị trường bánh kẹo của KDC, vốn đã thống lĩnh thị trường và sở hữu một trong những mạng lưới phân phối mạnh nhất đến các người bán lẻ tại Việt Nam”, ông Katsuhisa Ezaki, Tổng giám đốc kiêm Chủ tịch của Ezaki Glico cho hay.

Theo các chuyên gia, các nhà đầu tư Nhật đổ xô vào thị trường, mua lại các công ty Việt Nam do đây là thời điểm đầu tư thuận lợi: các doanh nghiệp sản xuất trong nước đang gặp khó khăn; lãi suất ở Việt Nam cao hơn ở Nhật Bản; giá cổ phiếu của các doanh nghiệp đang ở mức thấp...

Đến bất động sản

Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài, trong quí 1-2012, Nhật Bản dẫn đầu vốn đầu tư vào Việt Nam, chiếm tới 88,8% (khoảng 2,3 tỉ đô la Mỹ) tổng số vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký cấp mới và tăng thêm,

Tổng vốn FDI đăng ký cấp mới và tăng thêm 3 tháng đầu năm nay là 2,63 tỉ đô la Mỹ, bằng 63,6% so với cùng kỳ năm 2011.

Lĩnh vực bất động sản có số vốn đăng ký nhiều nhất.

Theo Jetro, bất động sản Việt Nam những năm trước hầu như không thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư Nhật. Thế nhưng giờ đây đã khác.

Theo Alex Finkelstein, chuyên gia cao cấp về bất động sản quốc tế, thị trường bất động sản Việt Nam đang hấp dẫn nhà đầu tư Nhật Bản.

Sự kiện Tập đoàn Tokyu Corp. của Nhật Bản hợp tác với Tập đoàn Becamex IDC Corp liên doanh trong dự án 1,2 tỉ đô la Mỹ để phát triển 71 héc ta tại thành phố mới Bình Dương cho thấy một nguồn tiền lớn của Nhật đang đổ vào lĩnh vực này. Dự án sẽ bao gồm khu giải trí, thương mại, văn phòng và 7.500 đơn vị nhà ở.

Theo các chyên gia, thị trường bất động sản Việt Nam đang rất thiếu vốn, vì vậy các nhà phát triển dự án đang tìm kiếm các nguồn tài chính mới bằng nhiều cách như bán toàn bộ dự án, tìm kiếm đối tác liên doanh, bán nguyên dự án căn hộ hoặc bán mặt bằng bán lẻ và văn phòng,…

Nhiều nhà phát triển dự án Việt Nam nắm giữ quỹ đất lớn hiện muốn bán bớt đất dự án để huy động vốn xây dựng các dự án khác. Đây rõ ràng là cơ hội cho các nhà đầu tư Nhật Bản.

Tập đoàn Tama Global Investment Pte Nhật Bản cuối tháng 12-2011 đã tiếp cận thị trường Việt Nam bằng cách mua 20% cổ phần trong Công ty cổ phần Phát triển và Đầu tư bất động sản COTEC (COTECLAND). Tới đây, Tama sẽ chuyển giao công nghệ tiên tiến trong quản lý xây dựng và bất động sản cho đối tác địa phương nhằm rút ngắn thời gian xây dựng, giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng lợi nhuận.

Ở phân khúc cao ốc văn phòng, một quỹ đầu tư bất động sản Nhật Bản đã mua lại tòa nhà Centre Point trên đường Nguyễn Văn Trỗi, quận Phú Nhuận,TPHCM.

Phân khúc bất động sản công nghiệp, khu công nghiệp ở Đồng Nai được phát triển bởi Donafood Việt Nam và ba đối tác Nhật Bản là tổng công ty Sojitz, công ty TNHH Daiwa House và Kobelco Eco-Solution. Với sự hợp tác 88% liên doanh, các công ty Nhật Bản và đối tác địa phương sẽ đầu tư 100 triệu đô la Mỹ trong lĩnh vực bất động sản công nghiệp.

Trong các dịch vụ bất động sản, KMIX Corp - một công ty tư nhân Nhật Bản đã mua 45% cổ phần công ty Huy Bảo để thâm nhập vào quản lý xây dựng nhà cao tầng tại địa phương và thị trường bảo trì xây dựng. KMIX đã quyết định hợp đồng sau khi nhìn thấy thị trường dịch vụ bất động sản bão hòa trong hầu hết các lĩnh vực là đầu tư Nhật Bản.

Tại buổi hội thảo mới đây tại Tokyo (Nhật Bản) để giới thiệu về bất động sản Việt Nam, ông Neil MacGregor, Phó giám đốc điều hành Savills Việt Nam cũng đã nhấn mạnh sự quan tâm ngày càng tăng của các nhà đầu tư Nhật Bản đối với thị trường Việt Nam. Việc có hơn 100 nhà đầu tư Nhật Bản tham gia hội thảo này đã cho thấy sự quan tâm rất lớn của các nhà đầu tư Nhật Bản đối với thị trường bất động sản Việt Nam.

Và dịch vụ - công nghệ thông tin

Ngoài những lĩnh vực nói trên, ngành dịch vụ tài chính và công nghệ thông tin cũng được các doanh nghiệp Nhật hướng vào. Tuy nhiên, theo giới chuyên mốn hướng vào hai lĩnh vực này, các nhà đầu tư Nhật thường đi bằng con đường mua bán sáp nhập (M&A).

Theo ông Chu Tiến Dũng, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Phát triển Công viên phần mềm Quang Trung, hiện có nhiều công ty công nghệ thông tin và phát triển phần mềm của Nhật có ý định mở rộng quy mô hoặc tìm kiếm đối tác đầu tư là các doanh nghiệp phần mềm tại Việt Nam theo con đường M&A. Phần lớn các công ty Nhật muốn vào Việt Nam hiện nay đã chọn giải pháp mua lại những công ty trong nước với quy mô nhỏ đang hoạt động nhằm tận dụng sẵn nguồn nhân lực. Với hướng đi này, theo ông Dũng ghi nhận, quá trình thương thảo đi đến quyết định mua bán và sáp nhập của các nhà đầu tư trong lĩnh vực này hiện nay nhanh hơn trước rất nhiều. Ông cho biết, trước đây các nhà đầu tư Nhật luôn rất thận trọng, khảo sát đến 2-3 năm mới tiến hành đầu tư. Hiện nay thì khác, chỉ trong khoảng sáu tháng là có thể làm xong. Hiện có vài công ty Nhật đang có ý định này, ông Dũng nói.

Dưới góc nhìn của nhà tư vấn đầu tư, ông Nguyễn Tất Thắng, Kinh tế trưởng Công ty HSC, cũng cho rằng lĩnh vực công nghệ thông tin đang thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là đối với các công ty Nhật. Theo ông Thắng, công nghệ thông tin Việt Nam phát triển chưa mạnh, trong đó đáng chú ý là việc phát triển cơ sở dữ liệu, hệ thống quản lý của một số ngành như ngân hàng, phân phối, y tế… Do đó một số nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam, qua kênh mua bán sáp nhập, để khai thác thị trường này.

Cụ thể sau thời gian rầm rộ đầu tư vào 7 doanh nghiệp Việt Nam trong năm 2011 (là VNG, VMG, Vật giá, VGame, Baokim, CleverAds và Di Động Xanh) ngay những ngày đầu tháng 3-2012, Quỹ CyberAgent của Nhật đã công bố khoản đầu tư mới vào website thương mại điện tử Tiki.vn.

Tương tự, nhà đầu tư Nhật cũng đang đẩy mạnh đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ tài chính ngân hàng. Tiêu biểu nhất trong lĩnh vực tài chính là thương vụ Mizuho Corporate Bank (Nhật Bản) mua cổ phần của Vietcombank (VCB). Ngân hàng này phát hành riêng lẻ 15% cổ phần cho Mizuho Corporate Bank, với tổng giá trị 543,8 triệu đô la Mỹ. Đây là lần thứ hai, một ngân hàng Nhật Bản là cổ đông chiến lược của một ngân hàng Việt Nam. Trước đó, Sumitomo Mitsui Banking Corporation đã mua 15% cổ phần của Eximbank.

Còn tại sao chọn phương án M&A, theo giới chuyên môn, khi thực hiện phương án mua lại một phần doanh nghiệp, nhà đầu tư Nhật Bản sẽ rút ngắn được thời gian chuẩn bị đầu tư. Chi phí đầu tư có thể giảm đến 20% trong bối cảnh hiện nay.

Rõ ràng xu hướng đầu tư của Nhật không dừng lại ở việc xây dựng nhà máy sản xuất rồi xuất khẩu sản phẩm như lâu nay mà họ đang len lõi vào thị trường nội địa Việt Nam sâu hơn.

Theo các chuyên gia, các quyết định đầu tư của nhà đầu tư Nhật thường dựa vào các thông số về thị trường đông dân, tốc độ phát triển kinh tế ổn định và thu nhập đầu người ngày càng cao. Họ thường nghiên cứu rất kỹ trước khi đầu tư, và sẽ đầu tư vào các lĩnh vực thực sự có tiềm năng lâu dài, hướng tới tương lai, chứ không phải chỉ để giải quyết khó khăn hiện tại.

Khó khăn hiện tại của các doanh nghiệp Nhật Bản là thị trường chính quốc đã bão hòa, cùng với đồng yen đang lên giá. Các nhà đầu tư người Nhật đang chuyển sang tìm kiếm thị trường mới, theo Jetro.

Source: http://www.thesaigontimes.vn/Home/kinhdoanh/dautu/74969/Chuyen-dich-moi-tu-dau-tu-Nhat.html

Wednesday, March 21, 2012

Những 'con cá mập' và cuộc chiến bán lẻ ở Việt Nam

Cuộc chiến bán lẻ đến hồi gay cấn khi chỉ trong nửa đầu tháng 3/2012, ba "con cá mập" lớn của nước ngoài, gồm: Takashimaya, Aeon và Temasek công bố các dự án đầu tư vào Việt Nam.

Như vậy, tính đến tháng 3/2012, đã có khoảng 20 tập đoàn bán lẻ hàng đầu của các nước đầu tư vào Việt Nam. Trong khi đó, tình hình kinh doanh của các nhà bán lẻ trong nước lại chưa hẳn đã xuôi chèo mát mái.

Ngoại xốc tới

Đầu tháng 3/2012, một "cá mập" trong làng bán lẻ thế giới - Takashimaya Singapore - cam kết thuê khoảng 15.000 mét vuông sàn bán lẻ tại 5 tầng của giai đoạn 2 dự án Saigon Centre. Lý do vào thị trường Việt Nam, theo bà Yoko Yasuda, Giám đốc điều hành Takashimaya Singapore, là thị trường bán lẻ Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển sôi động với nhóm người tiêu dùng có thu nhập trung bình ngày càng tăng.

Một nhà bán lẻ tên tuổi khác, Tập đoàn Aeon Nhật Bản, cũng chính thức tham gia hoạt động tại thị trường Việt Nam qua việc khai trương Công ty trách nhiệm hữu hạn Aeon Việt Nam vào ngày 2/3/2012. Dự kiến, tháng 9 tới, công ty này sẽ xây dựng Trung tâm thương mại Aeon - Tân Phú Celadon tại quận Tân Phú với vốn đầu tư khoảng 100 triệu USD. Ông Motoya Okada, Giám đốc điều hành của Aeon Group nhận định, Việt Nam đang thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài và sẽ là một trong những trọng tâm phát triển của châu Á. Phân khúc khách hàng mà tập đoàn hướng tới là tầng lớp người dân có thu nhập trung bình. Dự kiến đến năm 2020, Aeon sẽ xây dựng khoảng 20 trung tâm bán lẻ nữa tại các vùng miền của Việt Nam. Còn Malaysia có dự án "đại siêu thị" (shopping mall) Platinum Plaza, do Tập đoàn WCT đầu tư với tổng vốn 600 triệu USD tại Bình Chánh.

Đáng lưu ý, nhiều nhà bán lẻ nước ngoài lựa chọn con đường hợp tác với doanh nghiệp trong nước. Bà Nguyễn Thị Tranh, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư Phát triển Saigon Co-op (SCID) cho biết, dự án khu trung tâm thương mại phức hợp có qui mô lớn nhất Việt Nam với diện tích rộng hơn 4ha vừa khởi công tại phường Tân Phong, Q7, TP.HCM là do SCID hợp tác với công ty đầu tư Mapletree (thành viên của Tập đoàn Temasek Holding) thực hiện nhằm khai thác nhu cầu mua sắm, ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí của người dân TP.HCM cũng như người nước ngoài đang sinh sống tại thành phố này.

Tương tự, E-Mart - Tập đoàn bán lẻ lớn của Hàn Quốc - cũng đã vào Việt Nam thông qua việc thiết lập một liên doanh với Tập đoàn U&I của Việt Nam có trụ sở tại Bình Dương. Liên doanh E-Mart Việt Nam có vốn đầu tư ban đầu 80 triệu USD và có kế hoạch mở chuỗi 52 siêu thị đến năm 2020. Nhà bán lẻ Mitsukoshi Isetan Holdings (Nhật Bản) cũng đang tìm hiểu về việc phát triển chi nhánh ở Việt Nam. Nhìn lại thị trường bán lẻ, có thể thấy Việt Nam đã có hàng loạt siêu thị của các đại gia bán lẻ như: Big C, Metro Cash & Carry, Giant, Lottemart, Familymart, Daiso, Circle- K, Guardian…

Khai thác triệt để thị trường

E-Mart - nhà kinh doanh bán lẻ tổng hợp có thế mạnh về các mặt hàng thực phẩm và nông thủy sản tươi sống - ngay trong hợp tác ký kết ban đầu với đối tác trong nước, đã có kế hoạch đưa các mặt hàng tại Việt Nam vào hệ thống hơn 150 E-Mart ở các nước khác.

Tập đoàn Aeon khi vào Việt Nam cũng nhắm đến việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp Nhật vào Việt Nam và thúc đẩy việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào Nhật Bản. Ngay khi ra mắt thị trường Việt Nam, ông Nishitohge Yasuo, Tổng giám đốc Aeon Việt Nam đã cho biết, hơn 1/3 số mặt hàng trong 130 cửa hàng bán lẻ sẽ dành cho các thương hiệu của Nhật Bản. Việc khai thác đa chiều này đã được các tập đoàn nước ngoài vào Việt Nam trước đó thực hiện dưới nhiều hình thức. Tháng 9/2011, Metro Cash & Carry đã tổ chức Tuần lễ sản phẩm Đức để xây thương hiệu cho doanh nghiệp Đức tại Việt Nam. Trong năm 2011, Big C đã xuất khẩu khoảng 21 triệu USD các sản phẩm của Việt Nam ra nước ngoài, tăng khoảng 20% so với năm 2010. Trong đó, tăng mạnh nhất là các mặt hàng thực phẩm chế biến từ cá basa, tôm, gạo, cà phê, hoặc chế biến sẵn như tương ớt, mít sấy… với tổng cộng 165 sản phẩm của 19 nhà cung cấp, đạt kim ngạch 10 triệu USD. Kế đến là nhóm hàng vải sợi với khoảng 400 kiểu từ 11 nhà cung cấp, đạt 8 triệu USD. Và cuối cùng là hàng bách hóa với các sản phẩm hàng gia dụng, thủ công mỹ nghệ, trang trí nội thất…

Hệ thống Lotte Mart Hàn Quốc cũng đang khai thác thị trường theo hướng này. Cụ thể tại các siêu thị Hàn Quốc ở Q.7 và Q.11, TP.HCM, sản phẩm của doanh nghiệp Hàn Quốc luôn được chiếm vị trí ưu tiên trên quầy kệ. Cũng thông qua Lotte Mart, nhiều mặt hàng gia vị, thực phẩm chế biến, gia dụng, đồ dùng nhà bếp… của Hàn Quốc có cơ hội tiếp cận với người tiêu dùng và cũng từ đó tìm đường phân phối rộng hơn ra mạng lưới bán lẻ bên ngoài.

Ở chiều ngược lại, siêu thị Lotte Mart đã đưa hàng Việt Nam vào 97 siêu thị ở Hàn Quốc, chiếm khoảng 15% trong cơ cấu hàng nhập khẩu bày bán tại các siêu thị Lotte Mart Hàn Quốc. Dự kiến Lotte Mart sẽ tiếp tục đưa hàng Việt Nam sang 94 siêu thị tại Trung Quốc và 28 siêu thị tại Indonesia.

Những cuộc chia tay ngậm ngùi

Tuy nhiên, trong khi những nhà bán lẻ quốc tế đang hăng hái đổ bộ vào thị trường Việt Nam thì cũng có những siêu thị bán lẻ âm thầm đóng cửa. Cuối tháng 2/2012, Fivimart quận 7 đã đóng cửa siêu thị của mình, gây bất ngờ đối với một số nhà cung cấp. Nhưng đối với nhiều người trong giới kinh doanh bán lẻ, đây là điều sớm muộn cũng phải xảy ra, bởi trước đó hệ thống này đã lần lượt đóng cửa năm siêu thị của mình tại thị trường miền Nam. Nhiều người cho rằng, thất bại của Fivimart ở phía Nam có thể mang yếu tố vùng miền, vì hiện Fivimart tương đối thành công tại thị trường phía Bắc với 13 siêu thị. Tuy nhiên, một chuyên gia trong lĩnh vực bán lẻ cho rằng, mô hình hoạt động của siêu thị này mới là nguyên nhân chính. Fivimart đã lựa chọn phân khúc khách hàng có thu nhập trung bình khá và cao cấp nên phần nào hạn chế khách mua sắm. Đa số hàng hóa bày bán tại siêu thị là hàng nhập khẩu, phục vụ nhu cầu tiêu dùng cao cấp, tiện lợi hơn là thiết yếu. Trong khi phần lớn người dân tìm đến siêu thị hiện nay là để mua các mặt hàng thiết yếu, sau đó mới đến sắm sửa hàng cao cấp hơn. Thời gian gần đây, Fivimart phải chia sẻ thị phần với các siêu thị lân cận như: Lottemart, Citimart… trong khi chi phí thuê mặt bằng, nhân sự, kho bãi… tăng cao. Việc điều hành từ xa (Ban Giám đốc ở phía Bắc) cũng hạn chế phần nào tính cạnh tranh của siêu thị.

Co.op Mart với 56 siêu thị trải dài trên 32 tỉnh thành năm qua cũng đã phải đóng cửa 3 siêu thị. Ông Nguyễn Thành Nhân, Phó Tổng giám đốc Saigon Co.op cho biết, nguyên nhân chủ yếu là do bị lấy lại mặt bằng, nhưng cũng một phần do hoạt động không hiệu quả. Hiện nay cả ba siêu thị này đang làm thủ tục giải thể, tiến hành quyết toán thuế và các vấn đề liên quan. Ông Nhân cho hay, trước khi mở một điểm mới, siêu thị có hẳn một bộ phận khảo sát địa bàn, thu nhập thông tin thị trường, thói quen tiêu dùng của người dân… để từ đó có chiến lược cung ứng mặt hàng phù hợp, tuy nhiên cũng có trường hợp không thành công vì yếu tố khách quan…

Trước đó không lâu, siêu thị Hà Nội trên đường Phan Đăng Lưu (Q.Phú Nhuận) cũng phải nói lời chia tay với thị trường, còn siêu thị Satra Bàu Cát phải chuyển nhượng cho một nhà bán lẻ khác. Năm 2011 cũng chứng kiến không ít siêu thị mini ngậm ngùi đóng cửa, trả mặt bằng vì không chịu nổi chi phí, kinh doanh lỗ lã, đặc biệt là các siêu thị mở trong khu chung cư, tòa nhà cao tầng.

"Khéo co thì ấm"

Trong biểu đồ miêu tả các giai đoạn phát triển thị trường bán lẻ tại một quốc gia của Công ty A.T Keaney, thị trường bán lẻ Việt Nam hiện nằm trong giai đoạn phát triển "thịnh vượng". Ở "thời kỳ vàng" này, người tiêu dùng đang tìm kiếm, làm quen với những mô hình mua sắm mới và háo hức khám phá các nhãn hàng quốc tế. Các khu vực bán lẻ đang dần hình thành và quỹ mặt bằng để cho thuê bán lẻ còn dồi dào. Ông Trần Thanh Nhàn, Phó Tổng giám đốc Vinatexmart, rất lạc quan với tốc độ phát triển bình quân 67%/năm như hiện nay. Vinatexmart đang đẩy mạnh đàm phán thuê mặt bằng tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước, nhắm vào phân khúc thu nhập thấp và trung bình. Tuy nhiên, trong bối cảnh quỹ đất thành phố ngày càng hẹp, rất khó tìm được một mặt bằng rộng hàng ngàn mét vuông, nên xu hướng phát triển sẽ đa dạng, không chỉ mở siêu thị lớn mà còn phát triển chuỗi cửa hàng tiện lợi, diện tích vừa phải. Còn ông Ngô Văn Hải, Phó Tổng giám đốc hệ thống Citimart cho rằng, yếu tố quyết định sự sống còn của một điểm bán hàng chính là vị trí và giá thuê. "Đầu tư siêu thị lớn cần nhiều vốn, thời gian thu hồi lâu, trong khi một siêu thị quy mô từ 800-1.000m2 vừa có thể đi sâu vào khu vực dân cư, chi phí cũng thấp", ông Hải chia sẻ. Citimart cũng đi theo mô hình thuê lại những mặt bằng có sẵn diện tích từ vài trăm đến trên 1.000m2 trong những chung cư, tòa nhà lớn. Hiện tại Citimart đã phát triển khoảng 30 điểm bán. Cuối tháng 3/2012, Citimart sẽ tiếp nhận lại mặt bằng từ siêu thị Welcome thuộc tập đoàn Dairy Farm (Singapore) để phát triển mạng lưới của mình.

Xuất phát từ nhận định người tiêu dùng Việt Nam thường vào siêu thị chọn mua hàng thiết yếu, giá rẻ sau đó mới chuyển sang sắm sửa vật dụng khác, siêu thị Co.opMart Cần Giờ vừa được khai trương có diện tích khu tự chọn không quá 500m2, phục vụ dân cư thu nhập thấp nên hàng hóa chủ yếu là hàng thiết yếu, gia dụng. Để tiết kiệm chi phí quản lý, các siêu thị nhỏ của Co.opMart hiện nay được ghép chung với siêu thị lớn cùng tuyến để chia sẻ nhân sự, nguồn hàng hóa, hỗ trợ dịch vụ hậu cần… "Muốn kinh doanh siêu thị hiệu quả phải đầu tư phát triển thành chuỗi, vì vậy mục tiêu quan trọng của các siêu thị bao giờ cũng là mở thêm bao nhiêu điểm bán trong năm tới. Nhưng đối với mô hình chuỗi thì phải đảm bảo ít nhất hai yếu tố: vốn và phương pháp quản trị tốt", ông Nguyễn Thành Nhân, Phó Tổng giám đốc Saigon Co.op đúc kết lại.
Link
Source: http://vietstock.vn/ChannelID/761/Tin-tuc/217949-nhung-con-ca-map-va-cuoc-chien-ban-le-o-viet-nam.aspx

Tuesday, March 20, 2012

Ngân hàng loay hoay tìm doanh nghiệp vay vốn

Tìm cách cho vay để bớt đọng vốn

Phó tổng giám đốc một ngân hàng nhỏ cho biết ngân hàng ông hiện vẫn có đến 1.000 tỉ đồng dành riêng để cho vay doanh nghiệp. Mức lãi suất dao động từ 18-20%, tuy vậy ông cho biết trong cả tháng qua nhân viên tín dụng đã tìm kiếm khách hàng để cho vay nhưng không được là bao. Theo vị này, với mức lãi suất như trên nếu so với ngân hàng có vốn nhà nước hay ngân hàng nước ngoài thì không thể cạnh tranh, trong khi đó, các doanh nghiệp có hồ sơ tốt thường liên hệ với các ngân hàng trên để vay.

“Cũng có một số doanh nghiệp có nhu cầu nhưng khi xét hồ sơ thì không đủ tiêu chuẩn”, vị này cho biết. Ông cho biết thêm số tiền trên hiện đang dùng để đầu tư ngắn hạn và chờ để cho doanh nghiệp vay. Với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm nay được Ngân hàng Nhà nước giao là 8%, ông còn cho rằng chưa chắc ngân hàng sẽ đạt được mức tăng trưởng như trên trong năm nay.

Giám đốc khối khách hàng doanh nghiệp một chi nhánh tại TPHCM của Ngân hàng Quốc tế (VIB) cũng cho biết, trong thời gian này, ngân hàng ông đang tìm doanh nghiệp để cho vay, và tranh thủ giải ngân vốn. Tuy vậy, để tìm được doanh nghiệp đủ khả năng là không dễ vì các rủi ro đến với doanh nghiệp trong thời gian này là rất cao, khiến cho ngân hàng nếu không thận trọng thì nợ quá hạn sẽ gia tăng.

Đa phần các báo cáo tài chính mà doanh nghiệp chuyển đến đều được ngân hàng xem xét kỹ càng và giải ngân đúng theo nhu cầu chứ không theo số vốn đề nghị của doanh nghiệp. Hiện tại VIB đang đưa ra nhiều gói hỗ trợ cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, thực phẩm đồ uống, với lãi suất ưu đãi, thấp hơn 1,5 điểm phần trăm so với mức cho vay thông thường.

Từ đầu tháng 3, Ngân hàng Phương Đông cũng triển khai cho nhân viên tín dụng tại các chi nhánh về việc tích cực mời gọi khách hàng vay vốn. Ngân hàng này cũng đã giảm lãi suất xuống còn 18%/năm cho các khoản vay trong vòng 1 năm. Theo nhân viên tín dụng của ngân hàng này, việc xét cho vay sẽ được thực hiện tỉ mỉ và cân nhắc hơn, để tránh tăng thêm nợ xấu cho ngân hàng, trong khi việc thu hồi nợ trong điều kiện hiện tại rất khó.

Theo thông tin từ OceanBank, ngân hàng này đang áp dụng các chương trình ưu đãi đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân… hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, lâm, ngư nghiệp, diêm nghiệp… nhằm phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn với lãi suất thấp hơn 2- 3%/năm so với biểu lãi suất cho vay thông thường tại OceanBank. Đồng thời ngân hàng vừa quyết định dành một gói tín dụng ưu đãi trị giá 500 tỉ đồng với lãi suất cho vay khoảng 17%/năm cho một doanh nghiệp ở phía nam.

Trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, chuyên gia tài chính Lê Xuân Nghĩa cho rằng, hiện tại vốn ở các ngân hàng đang dư thừa, không tìm được khách hàng vay. Điều này đã dẫn đến nhiều ngân hàng bỏ tiền mua trái phiếu chính phủ, kỳ hạn dưới 5 năm với lãi suất khoảng 11%/năm.

Theo số liệu của Công ty chứng khoán Bảo Việt, tính đến hết ngày 9-3, tổng giá trị giao dịch toàn thị trường của trái phiếu đạt 47.575 tỉ đồng, trong khi cả năm 2011, con số này chỉ là hơn 73.000 tỉ đồng. Bảo Việt cũng cho rằng ngân hàng thương mại là đối tượng chủ yếu mua trái phiếu trong thời gian qua.

Trong buổi họp báo công bố giảm lãi suất huy động ngày 13-3, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình cũng cho biết, tính đến ngày 8-3, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng đã giảm 1,27% so với cuối năm 2011. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước lý giải rằng do yếu tố mùa vụ trong sản xuất kinh doanh ở kỳ nghỉ Tết Nguyên đán và tiếp đó, nhu cầu vay vốn còn hạn chế khiến cho dư nợ tín dụng giảm.

Lãi suất vay giảm chưa đáng kể

Trong khi ngân hàng đang tìm mọi cách để mời gọi doanh nghiệp vay vốn, thì trong buổi tọa đàm về tiếp cận vốn ngân hàng do Thời báo Kinh tế Sài Gòn tổ chức vào hôm 12-3, đa phần các doanh nghiệp tham dự đều cho rằng lãi suất hiện vẫn còn cao, nếu vay kinh doanh thì không có lãi. Đại diện các doanh nghiệp có mặt cho rằng mức lãi suất huy động giảm 1 điểm phần trăm, dẫn đến việc lãi suất cho vay giảm 1-2 điểm phần trăm tại một số ngân hàng chưa phải là mong muốn của doanh nghiệp vì mức giảm này không đáng kể.

Theo bà Lê Thị Kim Thư, Giám đốc Kinh doanh Công ty Owtex Thiên Hòa , mức lãi suất trên dù giảm vẫn quá cao đối với doanh nghiệp, và mức lãi suất hợp lý mà công ty có thể chấp nhận được vào khoảng 8%.

Bà Thư cho biết, hiện tại việc vay vốn chủ yếu để duy trì sản xuất, đảm bảo công ăn việc làm cho công nhân, không dám nghĩ đến lợi nhuận. Vì cái khó của doanh nghiệp hiện nay là tiêu thụ hàng, nếu tăng giá thì tồn kho sẽ tăng nên công ty cũng không dám đưa tất cả chi phí vào giá bán.

Trong khi đó, ông Phan Văn Dũng, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Thép Hữu Liên Á Châu, cho biết việc lãi suất cho vay được giảm xuống 1 điểm phần trăm thì sẽ giúp công ty ông tăng thêm được 5% lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Vì vậy, việc giảm lãi suất là rất quan trọng, nhưng ông Dũng cũng cho biết, khi lãi suất giảm xuống còn 12% thì doanh nghiệp mới có thể có lãi.

Còn ông Nguyễn Trí Kiên, Tổng giám đốc Công ty Túi xách Minh Tiến, cho rằng hiện tại doanh nghiệp nhỏ có ba cái khó: tiếp cận được vốn ngân hàng, được vay với lãi suất thấp và có thêm các chính sách hỗ trợ của Chính phủ để vượt qua những khó khăn hiện tại. Ông Kiên nói mức lãi suất trên đang bào mòn lợi nhuận của doanh nghiệp.

Theo ông Kiên, vấn đề quan trọng hiện nay là nhà nước nên điều chỉnh dòng vốn chảy vào các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, các nơi tạo ra giá trị thặng dư cao cho cả nền kinh tế. Lãi suất giảm mới chỉ đến được với doanh nghiệp lớn còn doanh nghiệp nhỏ và vừa dù cho nằm trong đối tượng ưu tiên cho vay vốn vẫn chưa được hưởng.

“Như vậy, liệu việc giảm lãi suất có tạo ra tác động tích cực cho nền kinh tế hay chưa, trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp một phần không nhỏ trong việc tạo ra tiền cho nền kinh tế và công ăn việc làm cho xã hội”, ông Kiên đặt câu hỏi.

Ông Võ Thanh Liêm, Tổng giám đốc Công ty TNHH Nguồn Sinh Thái, cho biết hiện tại doanh nghiệp “thở đến đâu hay đến đó”, không dám mở rộng sản xuất vì không có vốn. Nếu phải vay vốn ngân hàng với lãi suất 17- 18% thì xem như hoạt động kinh doanh sẽ không còn mang lại lợi nhuận.

Ông Liêm cho rằng, hiện tại doanh nghiệp phải tái cấu trúc mình để tìm được vốn, nhưng ngân hàng cũng phải xây dựng đội ngũ thẩm định dự án cho chuyên nghiệp, chính xác, trung thực thì mới mong vốn rót vào đúng chỗ, không ảnh hưởng tiêu cực đến cơ cấu nợ của ngân hàng, và ngân hàng sẽ mạnh dạn cho vay hơn.

Source: http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/nganhang/72983/Ngan-hang-loay-hoay-tim-doanh-nghiep-vay-von.html


Saturday, February 25, 2012

Vì sao tiền đồng có dấu hiệu lên giá?

Dấu hiệu tiền đồng lên giá trong thời gian gần đây được cho là nhờ giảm nhập siêu, kiều hối về nhiều. Tuy nhiên nguyên nhân sâu xa, căn bản của việc tiền đồng lên giá chưa được đánh giá đầy đủ.
Nguyên nhân mất giá của đồng Việt Nam kể từ năm 2008 đến quí 4-2011 được giải thích bởi thâm hụt cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối thấp; lạm phát cao, sự lỏng lẻo của chính sách tài chính; thiếu niềm tin vào chính sách.

Nguyên nhân của dấu hiệu tiền đồng lên giá trong thời gian gần đây (giá mua đô la Mỹ và giá bán phổ biến của các ngân hàng thương mại thời điểm này chỉ ở mức 20.750 đồng và 20.850 đồng) được cho là nhờ giảm nhập siêu, kiều hồi về nhiều, tuyên bố của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN)... Nhưng nguyên nhân sâu xa, căn bản của việc tiền đồng lên giá chưa được đánh giá đầy đủ.

Giảm nhu cầu đô la Mỹ để nhập khẩu tư liệu sản xuất

Nhập siêu giảm là yếu tố căn bản để giảm nhu cầu đô la Mỹ. Theo dõi kết quả nhập siêu qua các năm, đặc biệt là từ năm 2010 đến nay, cho thấy khoảng cách giữa xuất khẩu và nhập khẩu đang thu hẹp lại. Nhập siêu hàng hóa năm 2011 ước tính 9,5 tỉ đô la Mỹ, là mức thấp nhất trong vòng năm năm qua và là năm có tỷ lệ nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu thấp nhất kể từ năm 2002.

Giảm nhập siêu là một tín hiệu đáng mừng của nền kinh tế, nhưng sự sụt giảm liên tục trong bối cảnh nhiều năm qua nhóm tư liệu sản xuất luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu nhập khẩu (năm 2011 chiếm 90,6%) là một điều cần phải lưu tâm.

Theo Tổng cục Thống kê, tháng đầu tiên của năm nay giảm nhập khẩu mạnh nhất là nhóm hàng nguyên liệu phục vụ sản xuất. Trong đó, phương tiện vận tải và phụ tùng giảm 86,2%; bông giảm 56%; dầu mỡ động thực vật giảm 51,8%; kim loại thường khác giảm 53,5%; vải giảm 30,9%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép giảm 20,6%. Như vậy có thể thấy nhu cầu đô la Mỹ cho nhập khẩu từ nửa cuối năm 2011 đến nay đã giảm mạnh.

Không còn tình trạng các doanh nghiệp nhập khẩu chầu chực, đôn đáo chạy đi mua đô la như những năm trước. Có thể nói sản xuất đình đốn, co cụm của các doanh nghiệp trong nước là nguyên nhân sâu xa của cầu đô la giảm, do đó tỷ giá tiền đồng/đô la Mỹ cũng dần sụt giảm.



Không còn kỳ vọng tỷ giá đột biến

Có lẽ điều thành công nhất trong thời gian gần đây của Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình là giữ được tỷ giá theo tuyên bố. Ngày 7-9-2011, ông Bình tuyên bố điều chỉnh tỷ giá đô la Mỹ/tiền đồng đến cuối năm (2011) không quá 1%. Thực tế, cho đến những ngày cuối năm 2011, NHNN đã giữ được cam kết. Điều này bước đầu đã tạo niềm tin cho thị trường. Tiếp đó đầu năm 2012, ông Bình nói nếu không có những tác động bất thường (cả trong và ngoài nước) ảnh hưởng đến kinh tế thì tỷ giá tiền đồng/đô la Mỹ năm 2012 biến động không quá 3%.

Lời tuyên bố của ông Bình được những yếu tố khách quan hỗ trợ (kiều hối về nhiều, giảm nhập siêu, lãi suất tiền gửi bằng tiền đồng vẫn ở mức cao... Những yếu tố này chắc người đứng đầu NHNN với các số liệu thống kê đã nắm chắc), cộng với những động thái điều hành ngoại hối (chủ quan của NHNN mà bên ngoài khó có thể biết) khiến cho kỳ vọng tăng tỷ giá của doanh nghiệp, dân cư và các nhà đầu tư giảm mạnh. Trong hai tuần vừa qua, rất nhiều doanh nghiệp và người dân đi bán đô la Mỹ cho các ngân hàng thương mại. Giá mua ngoại tệ của ngân hàng giảm dần từ 20.930 đồng xuống 20.750 đồng/đô la vào cuối tuần trước. Dù giảm mạnh nhưng vẫn có nhiều người dân bán ngoại tệ lấy tiền đồng gửi các ngân hàng có mức lãi suất cao hơn 14%/năm. Dập kỳ vọng tăng tỷ giá là nguyên nhân thứ hai khiến tỷ giá tiền đồng/đô la Mỹ trên thị trường tiền tệ chính thức và tự do giảm khá mạnh trong mấy tuần gần đây.

Kiều hối về chuyển sang tiền đồng

Kiều hối về Việt Nam tiếp tục tăng mạnh trong năm 2011 và dịp Tết Nhâm Thìn 2012 (riêng năm 2011 ước đạt 9 tỉ đô la) là một nguồn cung ngoại tệ để ổn định tỷ giá. Những năm trước đây khi tỷ giá thị trường tự do cao hơn tỷ giá ngân hàng, việc quản lý thị trường còn chưa nghiêm, kiều hối bán cho ngân hàng rất ít. Nay tỷ giá thị trường tự do chỉ bằng, thậm chí có thời điểm thấp hơn, cộng với mức phạt rất cao 300-500 triệu đồng khiến người nhận kiều hối chủ yếu bán cho ngân hàng rồi gửi tiết kiệm bằng tiền đồng (ít đầu tư vào bất động sản như những năm 2009, 2010). Lãi suất gửi tiền đồng vẫn ở mức cao là một trong những nguyên nhân thu hút nguồn kiều hối.

Tỷ giá bao giờ điều chỉnh?

Một điều chắc chắn là tỷ giá tiền đồng/đô la Mỹ không thể ở mức như hiện nay. Mức tỷ giá này sẽ làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, về lâu dài không tốt cho hoạt động xuất khẩu. Đã có ý kiến bình luận để mức tỷ giá như hiện nay là “con dao hai lưỡi”. Tuy nhiên, nếu có điều chỉnh thì mức tăng tỷ giá của năm nay cơ bản sẽ ở mức biến động 3% mà ông Nguyễn Văn Bình tuyên bố. Với những yếu tố như đã đề cập ở trên, dư địa để NHNN chủ động điều hành tỷ giá rộng hơn các năm trước. Sự điều hành tỷ giá trong thời gian tới sẽ đồng bộ với việc kiềm chế lạm phát và giảm lãi suất tiền đồng.

Cuối năm 2011. Ông Tai Hui, Trưởng bộ phận Nghiên cứu Đông Nam Á của Ngân hàng Standard Chartered, dự báo tỷ giá tiền đồng/đô la Mỹ của Việt Nam sẽ đạt mức 21.400 đồng/đô la Mỹ trong quí 1-2013 và vào quí 3 cùng năm sẽ đạt mức 22.000 đồng. Nếu dự đoán này là đúng thì có thể cuối quí 1-2012, NHNN sẽ đi bước đầu tiên trong lộ trình điều chỉnh tỷ giá của năm. Tuy nhiên, sự điều chỉnh này cũng không gây sốc cho thị trường vì bước điều chỉnh ngắn. Ngay tại thời điểm này, dù dự đoán có sự điều chỉnh tỷ giá thì khi đặt tương quan so sánh với lợi nhuận thu được từ việc gửi tiền đồng trong ngân hàng, nhiều người vẫn quyết định bán đô la Mỹ để chuyển sang tiền đồng.

Source: http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/tiente/71810/Vi-sao-tien-dong-co-dau-hieu-len-gia?.htmlc